Sài Gòn- Thị thành hoang dại [Khải Đơn] – phần 4

 Không gắn bó, không quê hương

 Billy Ngô

Thật khó chịu khi không có một chút gắn bó nào cạnh nhau. Sài Gòn đem lại cảm giác bấp bênh tối thượng đó. Hai người bạn thân không hề biết quê nhà, bố mẹ của nhau nơi nào.

Một người thầy không biết xuất thân, lai lịch thằng học trò, cũng cặm cụi dạy nó thành nghề trong những đêm thức khuya trong xưởng. Cạnh cốc bia khề khà ngoài bờ kè, người ta bày cho nhau những mánh lới làm ăn – mà không mảy may quan tâm kẻ đang học nghề kia có thể sẽ cướp mất miếng ăn của mình khi thành nghề.

Bởi những con người đã cố gắng đến đây, chung sống với nhau trong cuộc mưu sinh dài vất vả và nặng ước vọng. Họ đã không kịp hỏi nhau liệu có ai là gốc ở Sài Gòn hay không, quê quán ở đâu. Họ không kịp dành thời gian để phân biệt đứa Sài Gòn, đứa không Sài Gòn, đứa nào chất, đứa nào gốc. Chất gốc là một thứ gì đó xa lạ và đầy khoe mẽ, tuyệt không phải do người lớn từ lâu ở vùng đất này sinh ra. Sự phù du của nguyên quán bị thổi tung thành tro bụi. Bất cần lai lịch, giữa thành phố, khi nhìn mặt nhau, người ta đánh giá nhau bằng hành xử nghề nghiệp, bằng cách chơi, bằng những hệ quả tự họ nếm trải. Lời xầm xì tỏ tường gốc tích không có chỗ dung thân. Chúng ta là người lạ mà.

Tôi nhận ra bạn mình người Sài Gòn ở những câu chuyện kể: ngày xưa đi mướn video xem, hồi đi học ăn bò bía ở Ngô Thời Nhiệm, chỗ đó Quận 6 hồi xưa là kênh không mà, lấy gì không ngập, hồi cấp ba ăn nằm lê lết ở trường đua Phú Thọ… Ở thành phố, không ai mất thì giờ để khẳng định tên tuổi qua những tính từ hầm hố và kì thị người khác, để được nâng mình lên cao hay tách biệt mình ra khỏi cái tủ kính sang chảnh của nguồn gốc. Vì ai cũng bận.

Ở Sài Gòn hãy nghe còi xe từ hai giờ rưỡi sáng, nơi giấc ngủ cắt ngắn lại nhường đường cho làm ăn. Khi phải tất tả xây đắp ước mơ, không ai kịp phân biệt và thù ghét một người khác vì cái nhãn tên vùng miền và xuất thân xa lạ. Cần đồng đội, cần đối tác, cần cả đối thủ… Cần làm ăn với nhau.

Người xung quanh sẽ gật gù chúc mừng một một cô bán vé số miền Tây khoe con trai thi đậu vào Bách Khoa. Cô sẽ bán vé số cùng cậu trai và học hết đại học ngon lành – không có giới hạn cơ hội nào như những đứa trẻ ở quê, ở tỉnh, cần là con ông cháu cha để có một cuộc đời tốt đẹp. Cơ hội luôn sẵn sàng dành cho một gã thanh niên lái xe Wave cùi, đeo sandal cũ, nhưng việc gì cũng xông xáo nhận làm. Người ta phải chùng lời khi dấy lên ý nghĩ muốn xem thường hoặc kỳ thị một “đối tác” còn quê mùa trong từng cử chỉ, cách cầm dao nĩa. Đó có thể là một ông chủ ngon lành nào đấy chỉ vài năm sau – nhờ quá chăm chỉ làm việc với sản phẩm ông tạo ra.

Một ông già từng ngồi kể tôi nghe xuất xứ của từ “ông ba bị”- kiểu hình ảnh ghê rợn doạ nạt con nít quấy khóc không chịu ăn đó, xuất thân từ truyện kể những người mất quê hương, mang ba cái túi, bỏ xứ sở mà đi, mưu sinh tội nghiệp và đơn độc biêt bao. Hình ảnh cũ ăn sâu vào tâm trí đến mức trở thành “biểu tượng” để người lớn cho con ăn rồi chỉ trỏ hù doạ vậy, nhưng kỳ thực nó là ý thức “ra đi” cứ mãi mãi đau đáu trong con người xứ Nam kỳ: không quê hương, rời bỏ, cô thế, đơn độc, tìm một chốn náu thân, đỡ lấy vai nhau khi cần tựa vào.

Những người đến thành phố như tôi, chẳng có gì khác “ông ba bị” trong truyện kể. Không thể níu nhớ một quá khứ vất vả, không dám nhìn nhau ghét bỏ giận thù, không đủ can đảm rào giậu bản thân sau một lớp phân biệt nặng mùi đe doạ. Chúng tôi phải sống cùng nhau, và yêu nhau để sống.

Xứ sở này, mềm như hàng nghìn lạch nước đưa những chiếc xuồng lênh đênh từ đồng này sang gò khác, từ vườn nhà đến thành thị, từ những xuồng hoa cuối năm đến thị thành hỗn loạn.

Không gốc gác, không mái nhà, kẻ khách lạ nương tựa vào nhau, gỡ bỏ mặt nạ và nỗi sợ, cố gắng hiền lành để không làm tổn thương chính mình trong cuộc chiến không cân sức với người lạ mà mình chưa biết.

Vô tình người trở nên xúc động giàn giụa nước mắt trước một bà lão bán vé số đứng khóc vì bị giật mất hàng. Tim hào phóng hơn khi bớt đi điếu thuốc hút để chìa cho cậu trai đánh giày thèm thuồng một hơi. Sự hung hãn cụp xuống, tự réo gọi người ta câm nín bỏ đi trước cuộc va quẹt xe máy báo hiệu điều xung đột nguy hiểm. Cô hàng trà đá ngoài vỉa hè, chùng tay rót nước hào phóng, rồi tiện miệng lắc đầu bảo không lấy tiền khi ông già đẩy xe lăn qua mua nước giữa trưa. Sợ cô đơn. Sợ tuyệt vọng. Người ta tự thắp hi vọng vào tim người khác để tự ấm mình, khỏi cảm thấy lạc lõng khôn xiết giữa bức tranh không nhà cửa hỗn loạn của thị thành.

Thôi ở đây xa mút mùa những tai tiếng, rời khỏi mớ kỳ vọng lùng nhùng của họ tộc, bứt bỏ niềm ân hận bể vụn đã gây ra cho mẹ cha. Người phải sống. Phải luôn tay đổ mồ hôi làm việc. Phải cười, để nhìn nhau không… thấy ghét.

Sống như chính mình ao ước…

Dù không quê hương.

Advertisements

Sài Gòn- Thị thành hoang dại [Khải Đơn] – phần 3

Rực rỡ nhất Sài Gòn

Thủ Thiêm là nơi tôi yêu nhất ở Sài Gòn.

Đi đến nó là lạc vào một cõi không gì cả.

Thủ Thiêm dạy cho tôi quá nhiều điều về thành phố này. Nơi đây ngập nước mỗi đợt triều cường lên, ngập sâu mút mùa. Xe máy đi lúc đó có khi nước ọc qua bô xe, rồi dắt bộ cả đám lếch thếch trên đường xấp ngửa nước dềnh. Trên con nước lụp ngụp ấy, mấy ông già, cậu trai, có bữa cả một cặp đôi tung tăng xách cần ra đường… câu cá. Họ cười đùa, họ cầm cái xô đựng cá, vui giật cần câu rồi ra về. Có cả những người câu cá nghiêm túc, là đi kiếm ăn thật, ra gần bờ sông xổ mẻ lưới xong là về. Thiên hạ nào phóng ô tô nước bắn tứ tung thì cứ phóng, ai rảnh hơi nhàn rỗi câu cá thì cứ câu. Vui vậy.

Có những buổi chiều đi bộ ra phà cũ, tôi thấy Sài Gòn lộng lẫy như em gái trẻ mình đầy trang sức đắt tiền, long lanh phủ nắng lên mặt sông, xa hoa khi đèn khách sạn bung nở từ bờ bến phồn hoa Quận 1 hắt qua, rồi cứ đà đó mà phóng vút vào đêm tối, đắm đuối như thiêu thân, hoang dại như một cơn hứng tình lộng lẫy. Đâu đó trên tầng thượng Majestic chắc mấy em gái Phillippines hát dở cũng đã bắt đầu rơi vào cơn men của bar rượu trước mấy khách Tây già rướm lệ khi nghe tiếng hát nhại nhóm Modern Talking vui nhộn như bốn mươi mấy năm về trước. Đó là bên kia bờ, là gò bồng đảo rờ rỡ của Sài Gòn.

Thủ Thiêm vẫn đang nín thở trong buổi chiều sụp mí mắt. Những người đứng sát bờ sông từ Thủ Thiêm thường ra tìm chỗ thoáng mát, hoặc đang cố hiểu thành phố này theo một cách khác, từ vết thương lở lói rặt bóng những ngôi nhà đã tan tành xác pháo, đã mang tên họ kẻ tái định cư, đã rời dòng sông đi về một miền nào chẳng rõ. Chốn ấy giờ là một dấu hỏi lạ lùng, hoang vắng đầy ý định nghiền ngẫm.

Tôi thấy vị sư chùa già đứng rất lâu dưới cổng chùa, nhìn mãi sợi dây điện đang cắt ngang toà Bitexco trước mặt. Anh chàng say rượu ngủ khì giữa đường rồi khật khưỡng đứng dậy kéo áo xống mà tiếp tục về nhà. Cô gái trẻ đang đứng nhìn như bị thôi miên trước bầy dê mà ai đó vừa thả giữa con đường cỏ vạt ra sông, như thể vừa từ một thế giới nào tới. Có ba mẹ con ăn xin mà tôi từng gặp nhiều lần từ đây đi ra, đứa bé tung tăng vô tư lự. Bà mẹ ẵm theo thằng em vừa đi vừa nựng nịu cho nó ăn quà. Lem luốc, đen đúa, họ như trút cởi hết cuộc ăn xin bận rộn ngoài kia để có một phút thư giãn, an ổn cùng nhau.

Bên sông, Thủ Thiêm có một nhà thờ nhỏ nằm cuối con đường cũ (chắc trước đây tràn ngập mái nhà). Giờ nhà thờ một mình một bóng giữa cánh đồng tối đen. Noel năm trước, khi tôi đi dạo quanh nhà dòng trong đêm lễ, nhìn mái nhà nhọn thẳng thớm lên trời với các ô cửa nhỏ màu xanh phảng ra ánh đèn tuýp trắng trong đêm lễ, tôi đã tưởng mình lạc vào vùng đất của một câu chuyện hay chiếu mùa cuối năm xứ Tây xa lạ nào đó, nơi có ngôi làng nhỏ ít bóng người, tiếng Thánh ca ngập tràn và bóng dáng những nữ tu già chậm rãi đi bộ qua khung cửa nhà thờ sáng đèn.

Hôm ấy một nữ tu đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của họ, gói gọn trong cõi nhà dòng, ra đời phục vụ rồi lại quay về khi tuổi già đến. Sau lưng nhà dòng cũng là nơi yên nghỉ của những nữ tu đã già và về bên Chúa. Và nhà thờ này đã nằm bên bờ sông hơn trăm năm nay rồi, vẫn thanh lịch, nhã nhặn và hiền hoà. Đứng từ sân nhà thờ nhìn ra sông, những tấm bảng quảng cáo “sinh từ một đến hai con” khổng lồ cắt xẻ lên bầu trời như những bàn tay quái vật đồ sộ, bấu vào mảng tối om bên này, nơi ánh đèn xa hoa không lan tới kịp.

Buổi chiều ở Thủ Thiêm giống một cái hang động của những người đi trốn. Phải trốn vào thật sâu, lướt qua những lùm cỏ hoang, có con đường đi qua không một bóng người, chỉ rặt xà bần, nền nhà, có cả xác búp bê cũ nằm chỏng chơ trong nụ cười không mỏi mệt. Người dọn đi hết, rác trên đường cũng bạc màu theo. Vỏ kẹo bánh, nước ngọt cứ như từ kiếp nào vứt lại.

Khu nhà tôi ở hầu hết là dân tái định cư từ Thủ Thiêm lên. Từ bờ sông lên chung cư cũng có rất nhiều chuyện mắc cười. Ví dụ có anh trai kế bên nhà, mình xăm trổ đầy nhóc, ánh mắt gườm gườm, mấy cô gần đó bảo: “Nó là giang hồ, xưa nhà đầu hẻm, trấn luôn cái hẻm, dữ lắm.” Giờ lên tầng 3 chắc… hết hẻm rùi nên không còn trấn ở đâu nữa. Có một cô bán bún bò bên hông chung cư. Cứ đến chiều thì cô đẩy xe bún, hai cậu con trai đẩy cái xe nhỏ có chở rau, thịt bò, bún xuống dưới bày bán, bán chừng 4 tiếng hết thì lại đẩy xe đi thang máy lên lầu 8. Nói chung mọi người khi rời khỏi bến phà, bờ sông, tuy có nhà mới khang trang hơn, nhưng lại loay hoay không biết mưu sinh thế nào. Rất nhiều người buôn thúng bán bưng đã quay trở lại lập… cái chợ ngay dưới chân chung cư. Người nơi khác cũng đổ về buôn bán theo. Mấy nữ tu hàng xóm cũng hay kể chuyện về những người bán dạo họ quen từ thuở sống gần bờ sông, hàng lớp số phận dạt đi như nước sông qua đời.

Cứ nhìn Thủ Thiêm thì thấy cuộc đời ngắn ngủi như một khúc gió, thổi một cái thành bãi bờ hoang, thành cuộc đời xa lìa, xáo trộn, cỏ cây phủ mấy hồi mà thành hoang dại.

Cái chung cư tôi ở cũng vậy, vì nó là tái định cư, nên những người xây ra nó không có nhiều tình yêu lắm với những kẻ bị giải toả. Nhà xây gì mà ba hồi bong tróc, ba hồi vỡ nứt, ba hồi hỏng thang, rác đọng. Cứ như thể những kẻ đi xây nhà này không hề biết là họ đang xây nên mái ấm cuối cùng cho những người bơ vơ vậy.

Nhìn cho kĩ, mới thấy đứng ở bờ sông hoang dại bẩn thỉu mà còn gắn bó, hiền hoà hơn gấp nhiều lần cuộc đời trên những block nhà đầy ẩn ý và câm nín…

Sài Gòn- Thị thành hoang dại [Khải Đơn] – phần 2

1.     Xa mình thêm một chút

Ngày cuối năm, đứng trên cầu Sài Gòn nhìn xuống, tôi lại thấy Sài Gòn xa mình thêm một chút.

ce731787b0778671af61f0437002a5de34cfe173

Sài Gòn của mình, hiền như một cô điếm.

Cô đẹp kì ảo, lung linh, xong đêm muộn trở về, hệt mùa Tết đến, trống trơn như một ngôi nhà hoang. Nếu cô điếm sau một đêm dài lặng lẽ trở về ngôi nhà trống bé nhỏ của mình, thì Sài Gòn chẳng có chỗ mà về, nó lênh đênh trên bờ sông, mải mê thở dài trước cơn tĩnh lặng hiếm hoi của vài ngày rất ngắn. Người ta bỏ đi để về với yêu thương, về gia đình, hội ngộ, gặp cha mẹ già. Sài Gòn này sao có tất cả mà không gì hết. Có trọn vẹn tình nghĩa, có tháng ngày vui tươi, có chỗ dừng chân bằng hữu, chỉ thiếu mỗi nơi để về. Một người ham chơi, qua bao cơm phở chán chường, cuối cùng cũng chỉ thèm cơm mẹ mà quay về chốn xa. Rồi bỏ rơi Sài Gòn thôi.

Lật ngược lại, Sài Gòn như một người già khó tính và đòi hỏi. Ông ta ngồi ì đấy, mình phải gập đầu chịu đựng, gập đầu cho những đêm thật muộn ngập ngụa việc làm. Ở đây, tất cả đều cày cuốc như những con thiêu thân. Sài Gòn có tiền. Muốn sống thì làm. Muốn điên cuồng giàu có, thì làm. Thành phố là sự công bình ngỗ ngược của một hạt nhân chống lại cả một đất nước không cần quan tâm và tôn trọng sức lao động. Ở đây, trước ông sếp già khó tính, hãy làm việc chăm chỉ, và được sống như những con người thật sự. Không có sự so đo chèn ép nào, không ai có lịch sử, không cần đến quá khứ. Cứ làm việc, thiêu thân, và sống.

Nhưng ông sếp già sẽ luôn bị bỏ rơi, khi những con người làm việc đã giàu có, khá khẩm, đã bình an tự tại. Họ bỏ phố ra đi, tìm những nơi có cỏ xanh, gió mát, tìm ngày Tết thân quen, tìm một dáng nhà thanh thoát với không khí trong lành. Họ vứt lại kẻ ghiền lao động đã nhàu nhĩ già nua sau những tháng ngày làm việc chết bỏ, đớn đau, thành phố ô nhiễm, nực nội, lào khào thở theo gió. Một người già đơn độc – như Sài Gòn – cô đơn hơn khi mùa sung túc của người ta đến. Những đứa con nương nhờ sẽ bỏ thành phố đi xa khi cần vui vầy, viên mãn.

Rồi thì chẳng còn quyến rũ như cô điếm, cũng chẳng nghiêm khắc như một người già. Ngày mùng Một Tết mà đứng giữa Sài Gòn, thấy mình nghe ra một âm thanh khác. Khi bạn bè ngoại tỉnh như mình về quê hết, không ai rủ ăn trưa, không ai đi uống tối, cũng chẳng còn ai ở bên trò chuyện, thì mình đi bộ ra phố. Lúc ấy, tự dưng mình cười âm vang tận cuối đường. Phố này, hẻm này, cô bán cafe này, chú xe ôm này, tất cả đều người lạ hết, vậy mà chẳng còn ai lạ cả. Họ ở đấy, va đập vào mắt môi, hơi thở của mình, tự nhiên như đứa bạn thân đi chơi không không về gọi “Hầy, cafe đi, trời mát quá!” – Chẳng cần có thêm ai, mình cứ tênh tênh nhẹ nhàng như vậy đi hết phố cả một ngày mùng Một cô đơn.

Hôm mùng Một ấy, nắng Sài Gòn trắng biếc như cô gái thuở mười bày, nóng hanh cả người mà tĩnh lặng vô ngần. Có thuở mình nhìn các cô bé học trò mặc áo dài và lỡ yêu thương, thì hôm ấy phải lòng Sài Gòn như vậy.

Ngày thường làm sao biết được ngần ấy thứ. Nghe còi xe là điên rồ giận dỗi bỏ đi rồi.

Vì thèm cái cảm giác cô đơn ấy, cứ mùng Một Tết lại mò lên thành phố.

Từ dạo thênh thang ấy đã thề thốt rằng, mốt có đi xa, cũng còn nhơ nhớ thành phố này. Dễ cười. Dễ mượn áo mưa. Dễ nói thương nhau. Dễ rủ cafe.

Dễ yêu.

Sài Gòn Tết đến, mình tạm biệt nhau vài tuần… rồi hẹn gặp y như chưa từng đơn côi bao giờ.

Sài Gòn- Thị thành hoang dại [Khải Đơn] – phần 1

Chúng ta có căm giận thành phố hơn không khi nó đẩy mình ra ngoài kia – choáng váng vì cô đơn không lên tiếng được? Mất đi bản thể của mình, mất đi ý nghĩ được là mình, mất đi cả cảm giác là một ai đó quan trọng với người khác. Không kết nối. Đơn độc hoàn toàn. 

Em đừng sợ. Khi ấy hãy im lặng giữa muôn vạn tiếng động vô nghĩa kia. Giọng điệu của em riêng biệt và mạnh mẽ đến mức không cần phải khoe ra như bộ cánh của chú công già mỏi mệt hay hấp háy mệt mỏi như chuỗi đèn lòa xòa sáng chói của đêm hội hè xa lạ.

Sự im lặng là sức mạnh cuối cùng mà loài người này cần đến, khi chúng đã khản giọng tắt tiếng vì la hét tung hô cho một điều gì đó cuồng loạn. 

 

10644973_1527206644238592_6835644587443954002_n

  1. THỊ THÀNH HOANG DẠI

 

Tôi là người nhập cư, Sài Gòn như một miền đất lạ. Đây, miền Viễn Tây của những kẻ chinh phục không biết sợ, xứ sở sẵn sàng cho bất cứ ai cơ hội trở thành anh hùng hay mưu sinh lương thiện.

Nhưng cũng ở đây, những người trẻ chúng tôi đã đánh mất mình, đã say sưa trong hoa lệ, đã ngấm ngầm phải vùng lên chạy trong dòng chảy cuốn xiết đầy ảo tưởng. Sài Gòn này vậy đó, yêu thương không hết, nhưng cũng rỏ máu mà sống. Có những người đã gục ngã, ai đó gọi họ là “nạn nhân của đô thị”, nghe chua chát thẳm sâu và tủi hổ vô cùng. Nhưng cũng bao điều tỏa sáng, vuốt ve vết thương lành, như cái thịnh tình và lòng tốt của người Sài Gòn – nó trở thành một mảnh bao dung để người ta dù thương tích đầy mình, cũng tự dưng mà yêu thành phố.

Đây là Sài Gòn của tôi, một thành phố đắng cay trên từng cung đường, hồn nhiên mỗi bình minh và chen nhau đến chết ngạt trong đêm triều cường bi quan bậc nhất.

… Tôi đã yêu nó…