Tương tư môn – Chương 2.9

Ta còn tìm được một lão nhân chuyên chơi đàn, là chỗ quen biết với Chu Y Y. Theo lời lão, ba năm sau khi Chu Y Y mất, kẻ sĩ kia phạm tội bị bãi quan, lại trở về Cẩm Thành. Chu tam nương tử lúc còn sống hào sảng hiếu khách, cũng có chút danh hiệp nghĩa, có hơn hai mươi thiếu niên đường phố từng chịu ơn nàng quyết tâm trả thù cho nàng, trói kẻ sĩ kia giải đến trước mộ Tam Nương, muốn giết chết hắn để tế mộ. Kẻ sĩ kia sợ đến lăn lê vãi cả ra quần, gào khóc trước mộ Chu Y Y suốt một ngày, vừa làm thơ vừa viết văn tế, còn trồng ba gốc liễu, thề thốt suốt đời không thành thân nữa, lúc đó mới được thả về. Ông lão chơi đàn ấy nói, sau này lão từng đến cúng viếng Chu Y Y vài lần, ba cây liễu kia đều lớn lên vươn cao, từ xa đã có thể nhìn thấy.”

Kể một mạch xong, y nhìn Vi Trường Ca.

Vi Trường Ca nín lặng, giây lát mới nói: “Một người bảo là hồng nhan bạc mệnh công tử đa tình, một người nói là cô nương si tâm gặp kẻ bội bạc. Ai có thể ngờ, hai câu chuyện này lại kể về cùng một sự việc.”

“Trượng nghĩa thường là phường đồ tể, Phụ lòng hay ở đám thư sinh.” Tô Vọng Ngôn cười nhạt. “Câu chuyện này do “danh sĩ” kia kể ra đương nhiên là khác hẳn. Ta vốn nghi ngờ tất cả những chuyện này đều là cái bẫy do Lăng Tiêu sắp đặt, nhưng hôm đó nếu ta không nhất thời hứng thú quay về Cẩm Thành, há chẳng phải không gặp được “danh sĩ” kia? Vậy thì sự sắp xếp của nàng ta há chẳng phải xôi hỏng bỏng không ư?”

Vi Trường Ca chỉ mỉm cười, ngẩng đầu, nói: “Mà thôi, sự vật bên ngoài trời đất, ta biết nó tồn tại nhưng không bàn về nó[1]. Cho dù thật sự có yêu tinh quỷ quái, cũng chẳng liên quan gì đến chúng ta!” Y cười cười, rồi lại nói tiếp: “Nhưng ta không hiểu, trên bức vẽ Hình Thiên đó đề một câu: “Thường Nga hối trộm bình linh dược”, là có ý gì?”

Tô Vọng Ngôn khẽ gật đầu, tức thì than rằng: “Ta đang nghĩ, không biết Lăng Tiêu rốt cuộc có oan khuất gì, vì sao khắp thiên hạ chỉ có Nguyệt Tương Tư giúp được nàng? Còn cái đầu người kia nữa, rốt cuộc chuyện là thế nào?”

Nghĩ đến tình cảnh lúc đó, trong lòng y không khỏi hơi run lên, chỉ thấy luồng hơi lạnh cảm nhận được khi ấy lại một lần nữa lặng lẽ lan ra trong lòng, bất giác đưa tay nâng chén, nhấp một ngụm trà.

Vi Trường Ca khoanh hai tay trước ngực, trầm ngâm nói: “Lăng Tiêu này có chút cổ quái.”

Rồi y ra dấu tay ngăn Tô Vọng Ngôn lên tiếng, nói tiếp: “Từ đầu đến cuối, nàng chỉ nói có thù sâu tựa biển, đau đớn tâm can, nhưng lại không chịu nói ra rốt cuộc là oan gì, thù gì. Nếu chồng nàng ta bị người hãm hại thì chỉ cần giết kẻ thù trả thù là được rồi, trong giang hồ có biết bao kẻ nhận tiền để trừ tai giải nạn cho người, cũng có biết bao hiệp khách giúp kẻ yếu nhược chống lại cường bạo, vì sao nhất định phải cầu xin Nguyệt Tương Tư kia?”

Vi Trường Ca nhấn mạnh nói: “Còn đầu người kia nữa. Vùng Mân[2], Chiết[3] xác thực có hương liệu và phương thuốc bí truyền chống rữa nát, Tương Nam[4] xưa nay cũng có chuyện đuổi xác[5]. Nhưng đuổi xác chỉ giới hạn trong đất Tương, đi xuống đó một chuyến, hành trình dài nhất không quá một, hai tháng, còn về những hương liệu hay phương thuốc bí truyền kia, chẳng qua cũng chỉ duy trì cho thi thể không bị hư hỏng dăm ba năm trong môi trường hoàn toàn khép kín. Nhưng nếu Lăng Tiêu không nói dối, chồng nàng ta đã qua đời hai mươi năm rồi, một người đã chết hai mươi năm trước, đến nay cái đầu vẫn sinh động như còn sống, thực sự khiến người thường không tưởng tượng nổi! Kỳ dị như thế, mà nàng ta chỉ nói là “oan khuất quá đỗi, tinh hồn không tan” chắc chắn có ý lấp liếm, có điểm không thể cho ai biết.”

Y uống một ngụm trà rồi nói chắc như đinh đóng cột: “Ta cứ cảm thấy, vị Lăng phu nhân này nhất định có vấn đề.”

Tô Vọng Ngôn ngây người, nói: “Tuy huynh nói không sai, nhưng trong lòng mỗi người đều có bí mật, đều có những chuyện không muốn nói ra, có lẽ nàng không muốn nói, hoặc cũng có thể là thật sự không thể nói.”

Vi Trường Ca không tranh luận với hắn, cười bảo: “Bất kể ra sao, chúng ta đến Cẩm Thành, giao kiếm Thu Thủy tận tay Lăng Tiêu, chuyện này xem như xong rồi. Ồ, hiện giờ chúng ta không về Lạc Dương được, cũng không thể về Thiên Hạ Bảo, vậy thì tìm một nơi sống qua mùa đông rồi trở về nhé! Khi thời tiết ấm áp, con người thường dễ nói chuyện hơn, nói không chừng, cha đệ sẽ chỉ phạt đệ quỳ trước mặt tổ tông ba ngày là hết chuyện.”

Tô Vọng Ngôn ngẩn ngơ, cúi đầu cười khẽ, tựa vào thành xe, uể oải nhắm mắt.

Bên ngoài, cành khô cổ thụ bị tuyết đọng đè cong dần bị bỏ lại phía sau, trong tiếng vụt roi giòn giã, xe ngựa phóng nhanh về hướng Cẩm Thành ngày đông.

“… Vi Trường Ca.”

“Gì cơ?”

“Nếu huynh từng thấy dáng vẻ đau lòng của nàng ta, chắc chắn cũng…”

Không biết qua bao lâu, lời nói ngậm ngùi của Tô Vọng Ngôn rì rầm vang lên, rồi lại mất hút trong tiếng thở dài gần như không nghe thấy.

 

 

[1] Nguyên văn Hán Việt: “Lục hợp chi ngoại, tồn nhi bất luận.” Xuất xứ: Trang Tử · Tề vật luận.

 

[2] Mân: Tên gọi khác của tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

 

[3] Chiết: Tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

 

[4] Tương: Tên gọi khác của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

 

[5] Đuổi xác: Là một pháp thuật trong truyền thuyết có thể thúc đẩy thi thể đi lại, phổ biến ở miền tây tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, dùng để đưa di thể của người bản địa chết nơi đất khách trở về quê nhà.

 

Advertisements

Tương tư môn – Chương 2.8

Tô Vọng Ngôn kể: “Hôm ấy, ta từ chỗ Lăng Tiêu ra liền chuẩn bị gấp gáp về Lạc Dương, nhưng sự việc quả thật quá đỗi ly kỳ, giống như ngày hè ngủ trưa nằm mơ một giấc, tỉnh dậy, không phân rõ thật giả. Ta nghĩ đi nghĩ lại, lúc thì cảm thấy đó là thật, lúc thì lại nghi ngờ là đang nằm mơ, nghĩ mãi không sao lý giải được, do đó quay ngược trở lại.

Ta tìm một vòng ở gần đó, quả nhiên đúng như lời Lăng Tiêu, trong vòng mấy dặm đều không có nhà ai khác. Lại hỏi thăm ở lân cận, cũng không ai từng gặp kẻ có bộ dạng tương tự ba người kia. Ta không tìm được mấy người đó, đành nghĩ cách khác. May mà ta còn nhớ đêm ấy tiên sinh nhà họ Vương kia nói mình không nhớ đường, Vong Thế cô nương liền trả lời y, nhà Tam Nương qua khỏi đình Hồi Mâu ở ngã rẽ đầu tiên quẹo trái, trước cửa có ba gốc liễu. Đình Hồi Mâu này lại có thật, thế là ta bèn căn cứ nơi chốn nàng nọ nói, tìm đến tận cửa.”

Y ngừng lại, lạnh nhạt nói: “Nơi ấy, là một bãi tha ma hoang vắng. Có một ngôi mộ trơ trọi, đằng trước trồng ba cây liễu, chủ nhân là một kỹ nữ tên Chu Tam Nương.”

Vi Trường Ca bất giác há hốc miệng, nhưng không nói gì, hồi lâu mới gõ nhẹ mặt bàn, chau mày nói: “Ta cứ cảm thấy có chút không đúng… Có khi nào là ai đó cố ý giả làm yêu ma quỷ quái, giăng sẵn thòng lọng, muốn dụ đệ mắc câu?”

Tô Vọng Ngôn gật đầu, nói: “Thoạt đầu, ta cũng hơi hoài nghi, sự việc quá trùng hợp, cứ cảm thấy trong lòng không chắc chắn. Nhưng tiến triển về sau lại thực sự không giống như vậy.”

Y vừa nhớ lại, vừa chậm rãi kể: “Lúc ta đến đó, chỉ nhìn thấy một vùng mộ hoang không người trông nom. Tìm nửa ngày trời mới thấy ba gốc liễu ở chân dốc. Bên cạnh quả nhiên có một nấm mộ, nhìn ra được đã lâu năm rồi, bờ đất sau mộ đã sạt đổ phân nửa, trên mộ phủ đầy cỏ dại, tựa hồ lâu ngày chẳng ai hương khói. Nhưng trên mộ không còn bia mộ, cũng không có ký hiệu, không nhìn ra là mộ của ai.

Ta hỏi thăm khắp xung quanh Cẩm Thành, mọi người đều nói nơi đó gọi là dốc Diêm Vương, toàn chôn những khách qua đường nghèo khó, chán chường chết ở nơi đất khách quê người, nếu không thì là phường ăn mày, kỹ nữ. Nhưng mỗi khi hỏi đến người được chôn dưới ba gốc cây liễu kia là ai, thì chẳng ai trả lời được. Ta nghĩ hỏi nữa cũng không có kết quả, liền chuẩn bị ở thêm một đêm tại Cẩm Thành, sáng sớm hôm sau sẽ trở về Lạc Dương.

Không ngờ, trong quán rượu, ta lại chạm trán đám “tài tử danh sĩ” đã gặp ở hội thơ ngắm hoa kia, họ lôi kéo ta cùng uống rượu. Giữa tiệc mọi người khoác lác trời nam biển bắc, dần dà, bèn nói đến chuyện văn nhã phong lưu của mỗi người. Trong đó có một người muôn vàn cảm khái nhắc đến một cuộc gặp gỡ ở Cẩm Thành ba mươi năm trước, nói là năm xưa y giữ chức tham mưu ở trướng phủ, trong thời gian đó có giao hảo với một cô nương ở chốn thanh lâu, cả hai có rất nhiều lời thề ước trước hoa dưới trăng. Sau đó y lên kinh mưu cầu chức quan, bất đắc dĩ bỏ lại nàng ta, ba năm sau trở về, ngờ đâu giai nhân đã hương tan ngọc nát.”

Tô Vọng Ngôn nói đến đây, tốc độ chậm hẳn lại: “Người đó bảo, y không ngờ sau khi từ giã lại thành vĩnh biệt, đau lòng vô cùng, bèn trồng ba gốc liễu ở trước mộ nàng để gửi gắm nỗi niềm thương nhớ.”

Vi Trường Ca nhướng mày, không nói gì.

Tô Vọng Ngôn tiếp tục nói: “Ta nghe đến đây, nghĩ đến ba gốc liễu trước mộ Tam Nương, liền thuận miệng hỏi y nàng ấy phải chăng được chôn ở dốc Diêm Vương. Y hỏi ngược lại ta: “Dốc Diêm Vương là chỗ nào? Ta chỉ biết đó là một bãi tha ma ở ngoại thành, gọi là đình Hồi Mâu.” Cái tên dốc Diêm Vương này mới được đặt mấy năm gần đây, lúc trước nơi đó chỉ gọi là đình Hồi Mâu, nhiều năm rồi y không đến Cẩm Thành, do đó không biết đình Hồi Mâu đã đổi tên thành dốc Diêm Vương. Ta bèn lập tức hỏi y nàng ấy tên gì, tuy y hơi lấy làm lạ nhưng vẫn trả lời ta, nàng tên là Chu Y Y, người khác đều gọi nàng là Chu Tam Nương!”

“Lời nói phiến diện, không đủ làm bằng cứ. Đệ đã kiểm tra chưa?”

Vẻ thương tiếc lướt qua trong mắt Tô Vọng Ngôn. “Ta đã kiểm tra, ba mươi năm trước, giáo phường[1] Cẩm Thành đúng là từng có một vị Chu tam nương tử. Chu tam nương tử tên Y Y, từng là ca kỹ nổi danh một thời ở Cẩm Thành. Chu Y Y phải lòng một kẻ sĩ, lúc tiếng tăm lẫy lừng nhất thì đóng cửa không tiếp khách, còn dốc tất cả số tiền tích góp được để giúp người kia lên kinh xin chức quan. Ngờ đâu sau khi người kia có được chức quan, lại gửi về một lá thư cắt đứt quan hệ. Chu Y Y nghèo túng bệnh hoạn, lại thêm tức giận, chẳng bao lâu thì qua đời. Tất cả tiền để dành của nàng đều đã đưa cho người kia, sau khi chết thậm chí không mua nổi một cỗ quan tài. Mấy tỷ muội ở giáo phường niệm tình xưa, góp tiền mời một đạo sĩ, cho nàng một manh chiếu rách, chôn cất qua loa ở dốc Diêm Vương ngoài thành.

[1] Giáo phường: Là tổ chức quản lý biểu diễn âm nhạc vũ đạo và hí kịch trong cung đình từ thời Đường đến thời Thanh. Do các nữ nghệ nhân trong giáo phường cũng được gọi là cung kỹ, là một loại kỹ nữ theo nghĩa rộng, nên từ thời Tống Nguyên trở về sau, kỹ viện trong dân gian, nhất là nơi nữ nhạc diễn xuất, có lúc cũng được gọi là giáo phường.

 

Tương tư môn – Chương 2.7

Tô Vọng Ngôn liếc y, nói: “Đêm hôm đó, người thanh niên kia vừa bước vào rừng, liền có một mùi hương. Lúc ấy ta chỉ cảm thấy mùi hương rất quen thuộc, nhưng nhất thời không nghĩ ra rốt cuộc là mùi hương gì. Thế nhưng sau đó, ở chỗ Lăng Tiêu, ta lại ngửi được mùi hương ấy.”

“Ồ? Là mùi hương gì?”

“Hương trúc.”

“Hương trúc?” Vi Trường Ca nhướng mày, hỏi: “Ý đệ là?”

“Lúc ta và Lăng Tiêu nói chuyện, từng để ý thấy ngoài cửa sổ có trồng một bụi trúc.” Tô Vọng Ngôn ngừng lại, thoáng lộ vẻ do dự hiếm thấy, rồi mới nói tiếp: “Nàng nọ gọi người thanh niên này là “tiên sinh nhà họ Vương”…”

Vi Trường Ca đăm đăm nhìn y hồi lâu, trầm ngâm nói: “Tấn thư[1] ghi chép rằng, Vương Huy Chi[2] bình sinh yêu trúc, từng tạm ở nhờ trong gian nhà trống của người ta, bèn sai trồng trúc, có người hỏi lý do, Huy Chi chỉ ngâm vịnh, trỏ vào cây trúc, nói: Làm sao có thể một ngày thiếu huynh này được[3]? – Đệ muốn nói, “tiên sinh nhà họ Vương” chính là “huynh này”?”

Tô Vọng Ngôn chỉ nhìn y mà không đáp.

Vi Trường Ca ngẫm nghĩ, hỏi: “Vậy, “Vong Thế cô nương” kia là thứ gì?”

Tô Vọng Ngôn hỏi ngược lại: “Một chén quên đời, Bảy bát sinh gió[4], huynh bảo là gì?”

Vi Trường Ca cúi đầu ngó nghiêng trên bàn, gượng cười, nói: “Đệ đừng bảo ta, “Vong Thế cô nương” kia là một chén trà.”

Nào ngờ Tô Vọng Ngôn gật đầu thật.

Vi Trường Ca sững sờ, nhất thời quên cả nói chuyện.

Liền nghe Tô Vọng Ngôn nghiêm túc nói: “Dù không phải là trà, có lẽ cũng là những thứ đại loại như chén trà, bát trà, ấm trà, cây trà…”

Vi Trường Ca nghe y nói đến đây, cuối cùng không kìm nổi cười lớn. “Tiên sinh nhà họ Vương, Vong Thế cô nương, một người là trúc, một người là trà, quả là một sự phối hợp tuyệt diệu!”

Tô Vọng Ngôn sa sầm sắc mặt, sẵng giọng: “Có gì buồn cười chứ? Người có tinh phách, vật có tinh hồn, từ xưa đến nay, có rất nhiều trường hợp gỗ đá, vật chết biến hóa thành yêu quái, có gì kỳ lạ lắm đâu?”

Vi Trường Ca cũng không để tâm, vẫn cười, nói: “Có điều một chén trà cũng có thể trở thành yêu quái, không khỏi quá vô căn cứ. Nói như vậy, Thạch huynh thích chơi cờ kia chẳng lẽ là một chiếc bàn cờ bằng đá sao?”

Tô Vọng Ngôn lạnh lùng cười khẩy, cũng không nói, vẻ mặt khinh khỉnh.

Vi Trường Ca sực nghĩ đến một chuyện, khẽ “a” một tiếng, hỏi: “Đệ tìm được vị Tam Nương mà họ nói rồi chứ?”

Tô Vọng Ngôn vẫn không đáp.

Vi Trường Ca len lén ngó y, tự nói với mình: “Không à? Kỳ lạ thật đấy! Người ta đã nói nơi chốn rất rõ ràng, mà lại không đi tra xét cho ra nhẽ, thực sự không giống tính cách của Tô đại công tử cho lắm.”

Tô Vọng Ngôn không kìm được, phì cười.

Vi Trường Ca cười phụ họa. “Được rồi, được rồi, mau nói cho ta biết đi! Tam Nương kia rốt cuộc là người nào?”

Tô Vọng Ngôn ngưng cười, nghiêm mặt nói: “Người chết.”

Vi Trường Ca thoáng sững sờ.

[1] Tấn thư: Là một sách trong 24 sách lịch sử Trung Quốc (Nhị thập tứ sử), do Phòng Huyền Linh và Lý Diên Thọ phụng mệnh vua Đường Thái Tông biên soạn vào năm 648, kể về các sự kiện bắt đầu từ Tư Mã Ý thời Tam Quốc đến khi Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế lập nhà Lưu Tống năm 420.

 

[2] Vương Huy Chi: Nhà thư pháp thời Đông Tấn, con trai thứ năm của Vương Hi Chi.

 

[3] Nguyên văn Hán Việt: “Hà khả nhất nhật vô thử quân.” Về sau “thử quân (huynh này)” là danh xưng ước định của “trúc”.

 

[4] Nguyên văn Hán Việt: “Nhất bôi vong thế, Thất oản sinh phong.” Trích từ Tùy Viên thực đơn của Viên Mai thời Thanh.

 

Tương tư môn – Chương 2.6

Tô Vọng Ngôn nói: “Nguyệt Tương Tư là chủ nhân của Nhất Huyễn Cảnh ở Điền Bắc[1], trong giang hồ đều nói nàng thông hiểu các loại kỳ môn dị thuật, có thể kết nối âm phủ và dương gian, chính là kỳ nữ đệ nhất thiên hạ. Thậm chí có người bảo, nàng còn có khả năng cải tử hoàn sinh[2]! Nghe nói năm xưa Nguyệt Tương Tư không hề lạnh nhạt, vô tình giống như bây giờ, nhưng sau đó chẳng biết vì nguyên nhân gì mà ghét đời tránh tục, ẩn cư trong Nhất Huyễn Cảnh, không hỏi chuyện đời.

Lúc đó ta nghe Tam thúc nói đến đây, cũng lên tiếng đáp: “A, cháu biết rồi! Người Lăng Tiêu muốn tìm là Nguyệt Tương Tư!” Tuy Tam thúc cười cười, nhưng nụ cười đó tịch liêu vô hạn… Thúc nói: “Lăng Tiêu nói không sai, trong thiên hạ người duy nhất giúp được nàng, cũng chỉ có Nguyệt Tương Tư.” Ta ngắm sắc mặt thúc ấy, do dự hồi lâu, mới nhỏ tiếng hỏi: “Tam thúc, Tô tam công tử “chọn hết cành sương” mà Lăng phu nhân nói, chính là thúc ạ?” Thúc ấy nghe ta hỏi, chỉ cười nhàn nhạt, nói: “Phải hay không đâu có gì quan trọng? Dù sao hiện nay trên đời sớm đã chẳng còn con người tên Tô Ý này rồi.”

Ta đang không biết nên nói gì cho phải, Tam thúc lại quay đầu về phía ta, hỏi: “Vọng Ngôn, cháu muốn giúp nàng, phải không?” Ta đáp: “Vị Lăng phu nhân này xem ra cũng là một người đau khổ…” Thúc ấy “ừ” một tiếng, cúi đầu suy ngẫm rất lâu, nói: “Tính cách của Tương Tư rất mạnh mẽ, những năm qua, nàng ta rời xa nơi náo nhiệt, sống lẻ loi, đơn chiếc, chắc hẳn còn canh cánh bên lòng chuyện năm xưa. Hiện giờ cho dù Tô Ý đích thân đến Nhất Huyễn Cảnh, cũng không biết nàng có chịu gặp hay không nữa…” Ta lại hỏi: “Thế thì chuyện này của Lăng Tiêu nên làm sao mới phải?” Thúc ấy nghĩ ngợi, thốt nhiên tự nói với mình: “Tầng thứ ba của kiếm các có một thanh kiếm gãy, vốn nên dài hai thước bảy tấc, nhưng bị gãy ở chỗ một thước hai tấc, trên sống kiếm khắc hai chữ Thu Thủy, đó chính là kiếm Thu Thủy mà Tô tam công tử đeo năm xưa, nếu cầm kiếm Thu Thủy đi tìm Nguyệt Tương Tư, có lẽ sẽ có mấy phần cơ hội.” Nói đến đây, lại thở dài. “Chỉ đáng tiếc kiếm các là chốn trọng yếu, không được tự ý xông vào. Sau này nếu ở kiếm các, cháu gặp được nó, cảm thấy có hứng thú thì ngắm thêm vài lượt cũng không trở ngại gì.”.”

Vi Trường Ca cười, nói: “Tam thúc của đệ nói như vậy, há chẳng phải vạch rõ bảo đệ đến kiếm các trộm kiếm sao?”

Tô Vọng Ngôn mỉm cười, cúi đầu ngắm thanh Thu Thủy đặt trên đầu gối, nói: “Tam thúc biết ta muốn giúp Lăng Tiêu, nên mới cố ý nói như vậy. Thúc ấy muốn ta giao Thu Thủy cho Lăng Tiêu, tuy thúc không thể đích thân giúp nàng, nhưng chỉ cần có thanh kiếm này làm tin, Lăng Tiêu cũng có thể xin được Nguyệt Tương Tư giúp đỡ. Nói ra thì từ nhỏ đến lớn, bất kể ta muốn có thứ gì, làm gì, chỉ cần Tam thúc biết thì dù thế nào ông cũng giúp ta đạt được tâm nguyện. Tam thúc đối với ta, thực sự rất tốt, rất tốt…”

Vi Trường Ca khẽ gật đầu, sực nhớ đến mấy người ở ngoài Cẩm Thành kia, hỏi: “Không biết mấy người mà đệ nhìn thấy ngoài Cẩm Thành đêm đó rốt cuộc lai lịch thế nào?”

Tô Vọng Ngôn ngần ngừ nói: “Mấy người đó cử chỉ, ngôn ngữ đều rất cổ quái, nghe họ xưng hô với nhau, gọi là “Vong Thế cô nương”, “tiên sinh nhà họ Vương” gì đó, không phải là xưng hô của người bình thường. Ta cứ cảm thấy, mấy người đó… tựa hồ không giống con người, lại có đôi chút giống như là thứ yêu tinh quỷ quái.”

Vi Trường Ca bất giác bật cười, thốt lên: “Hả?”

Tô Vọng Ngôn liếc y, nói: “Đêm hôm đó, người thanh niên kia vừa bước vào rừng, liền có một mùi hương. Lúc ấy ta chỉ cảm thấy mùi hương rất quen thuộc, nhưng nhất thời không nghĩ ra rốt cuộc là mùi hương gì. Thế nhưng sau đó, ở chỗ Lăng Tiêu, ta lại ngửi được mùi hương ấy.”

“Ồ? Là mùi hương gì?”

“Hương trúc.”

[1] Điền: Tên gọi khác của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

 

[2] Cải tử hoàn sinh: Làm cho người đã chết sống lại.

 

Tương tư môn – Chương 2.5

Tô Vọng Ngôn đáp: “Ta đã nhận lời Lăng Tiêu, nhất định sẽ tận tay giao bức tranh cho Tô tam công tử, lúc ta nhìn thấy bức tranh đó thì đã ở Lạc Dương rồi, dù muốn hỏi cũng không có cách nào hỏi được…”

Im lặng giây lát, y khẽ nói: “Hôm ấy sau khi đã đi rất xa, ngoảnh đầu lại, ta vẫn thấy nàng đứng ở cửa dõi theo ta. Tuy ta hứa với nàng có chút manh mối nào sẽ thông báo cho nàng ngay, nhưng nàng vẫn không yên tâm… Sáng hôm ấy, trời rét căm căm, nàng một thân một mình, cô đơn lẻ loi đứng trên đường núi, tuy ta chẳng biết trong lòng nàng có chuyện gì, song cũng không kìm nổi cảm thấy buồn bã thay nàng…”

“Tô tam công tử mà nàng nói, thật sự chính là Tam thúc của đệ sao?”

“Sau khi về nhà, ta tìm cơ hội kể chuyện này với Tam thúc. Ta bắt đầu kể từ chuyện mười năm trước lần đầu tiên nàng đến Tô gia, cho đến chuyện lần này gặp được nàng ở Cẩm Thành. Tam thúc liền bảo ta mở bức tranh ra, nói cho thúc ấy biết trên bức tranh vẽ gì. Đến lúc ấy ta mới nhìn thấy bức vẽ Hình Thiên đó và bài thơ kia. Biểu cảm khi ấy của Tam thúc dường như đã hiểu rõ chuyện gì, ta bèn hỏi: “Tam thúc, Lăng phu nhân bảo cháu đưa đến bức tranh và bài thơ này, không biết là ý gì?” Tam thúc không trả lời, mà hỏi ngược lại ta, sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, cầu bất đắc, ngũ âm thịnh, trong tám nỗi khổ này của đời người, nỗi khổ nào là khổ nhất. Trong lúc nhất thời ta cũng không biết nên trả lời thế nào, chỉ nói: “Mỗi người vừa ra khỏi bụng mẹ, liền luôn luôn ở trong tám nỗi khổ, những nỗi niềm khổ sở này chẳng có điều nào không khiến người ta giày vò, khó chịu. Nếu nhất định phải nói ra điều nào là khổ nhất, có lẽ nên tính là cầu mà không được chăng?”.”

Vi Trường Ca cười nhàn nhạt, tiếp lời: “Cầu mà không được tuy khổ, nhưng có lúc cầu được rồi, cũng chưa chắc đã là chuyện may mắn.”

Tô Vọng Ngôn thoáng nhìn y, cười, nói: “Giọng điệu này của huynh cũng không khác mấy với Tam thúc. Hôm ấy ta trả lời như vậy, Tam thúc cũng mỉm cười, bảo: “Đúng thế, người sống ở trên đời, trăn trở bôn ba, phần lớn đều khổ sở vì cầu mà không được, nhưng không biết rằng, có lúc cầu được rồi, lại là một loại cảnh khổ khác.”

Ta đợi mãi, nhưng thúc ấy không nói gì nữa, ta không kìm nổi, đành hỏi thúc ấy: “Lăng Tiêu bảo trong thiên hạ chỉ có người đó giúp được nàng ta, người nàng ta nói, rốt cuộc là ai?” Tam thúc nghe xong, vẻ tươi cười bỗng biến mất, như thể bị khơi gợi lên tâm sự gì đó, mãi hồi lâu chỉ ngẩn ngơ ngắm trăng sáng trên trời một cách say mê…

Tô Vọng Ngôn nói đến đây, ngừng lại một chút, giải thích: “Tuy ta biết Tam thúc không nhìn thấy, nhưng mắt thúc ấy rất đẹp, ta cứ không kìm được cảm thấy thúc ấy đang ngắm trăng…

Ta đang nhìn mắt thúc ấy, đột nhiên thúc lại hỏi ta: “Hôm nay là ngày rằm, trăng có đẹp không?” Ta giật mình, vội đáp: “Đẹp lắm!” Tam thúc liền cười, nói: “Gió trong trăng sáng tương tư xa[1]. Có lẽ từ xưa đến nay, trăng sáng là vật tương tư nhất chăng? Tuy nhiên, trên đời này có một người còn xinh đẹp hơn, còn khiến người ta tương tư hơn trăng sáng trên trời …” Ta không rõ vì sao thúc ấy bỗng nói đến chuyện này, đang sửng sốt, liền nghe thúc nói: “Tên của nàng, cũng gọi là Tương Tư.”.”

Vi Trường Ca “a” lên một tiếng: “Ta biết rồi!”

Tô Vọng Ngôn nhìn y mỉm cười.

Cả hai đồng thanh nói ra ba chữ: “Nguyệt Tương Tư!”

Nói xong nhìn nhau cười vang.

[1] Nguyên văn Hán Việt: “Thanh phong minh nguyệt dao tương tư.” Trích từ bài thơ Giang Nam lộng của Vương Bột thời Đường.