Tịch mịch 6.1

Ngọc Trợ sai người đem áo đi. Sắc trời đã gần tối, mấy canh giờ vừa qua, Lâm Lang chỉ ăn tạm mấy cái bánh bột, bây giờ xong việc rồi mới cảm thấy đói bụng. Ngọc Trợ nói: “Giờ chẳng có ai, điểm tâm cũng không có, ta đi bảo bọn họ nấu cho con chút đồ ăn.”

Nàng vội nói: “Không phiền cô cô ạ, dù gì bây giờ chân con cũng tê cứng cả rồi, muốn đi đi lại lại một lúc, tiện qua nhà bếp xem có sẵn gì ăn không.”

Vì là ngự doanh hành tại[1] khi đi săn bên ngoài nên quy tắc có phần lơi lỏng, Ngọc Trợ bèn đáp: “Vậy đi, con đến đó ăn luôn cho nóng cũng tốt.”

Ai ngờ khi nàng đến nhà bếp thì trời cũng đã tối, trong bếp chỉ còn vài cái bánh bột. Nàng cầm lấy vài cái, đi ra ngoài, ngẩng lên thấy bầu trời đang tỏa ráng chiều, màu xanh lam của bầu trời trong suốt như thủy tinh. Từng ngôi sao dần xuất hiện. Nàng tham lam ngắm cảnh ráng chiều, chân men theo con đường đi đến bờ sông. Hoàng hôn bao phủ tứ phía, mặt sông lóng lánh. Trong gió đêm đậm mùi hương thanh khiết của cỏ xanh và lá cây. Chẳng lâu sau trăng lên, treo giữa những chạc cây, ánh trăng bàng bạc chiếu xuống mặt đất như phủ lên bốn bề một lớp lụa mỏng.

Nàng ăn xong bánh bột rồi đi đến bờ sông rửa tay. Vừa vốc nước lên thì không ngờ chiếc khăn dắt trên đai lưng rơi xuống, nháy mắt đã trôi theo dòng nước. Khăn rất nhẹ nên bị nước cuốn đi mất. Nàng chẳng kịp nghĩ nhiều, một chân đã lội xuống nước. Nước sông trong và nông nhưng lại chảy rất xiết. Lâm Lang đuổi theo hơn trăm bước, sông uốn khúc, một chạc cây khô chĩa ngang mặt nước đã giữ lại chiếc khăn của nàng khiến nó không bị trôi theo sóng nước. Nàng đến nhặt khăn lên, bím tóc tuột xuống cũng chẳng để ý. Tóc vướng vào chạc cây nọ khiến nàng bận bịu đứng gỡ.

Lúc này mới thấy dưới chân lành lạnh, trơn trơn, tuy lạnh nhưng lại có một cảm giác mới mẻ, thú vị khó nói nên lời. Dòng nước không ngừng chảy qua chân nàng, vừa mềm mại vừa ngưa ngứa. Nàng bèn ngồi luôn xuống chạc cây khô, vắt khô chiếc khăn rồi phơi lên cây. Bên bờ sông đều là lau sậy mới nhú. Trăng treo rất thấp nhưng lại sáng rõ, chiếu vào đám lau sậy đang phát ra tiếng rì rào trong gió. Nàng thấy bím tóc đã bị rối bèn gỡ ra buộc lại. Ánh trăng tuyệt đẹp, trắng như tuyết, mềm mại như khói sương. Nàng nhớ lại bài hát ru ma ma hát lúc mình còn nhỏ, tay bện tóc, miệng ngâm nga khe khẽ: “À ơi ơi à, sói đến rồi, hổ đến rồi, bọn chúng nhảy tường tới rồi. À ơi ơi à, tiểu a ca, mau ngủ thôi, a mã xuất mã chinh phạt…”

Mới hát được hai câu bỗng nghe thấy tiếng lau sậy xào xạc, nàng sợ hãi liền vội vàng vấn tóc, đứng lên, buột miệng hỏi: “Ai đấy?” nhưng không dám quay người, chỉ sợ là sói hoặc thú hoang. Tim đập thình thịch, mắt liếc trộm sang, thấy trên mặt nước thanh khiết dưới ánh trăng có hiện lên một bóng người.

“Ngươi là ai? Đây là đại doanh hành tại, ngươi là kẻ nào?” Là giọng một thanh niên trẻ tuổi.

Lâm Lang thấy hắn hỏi lại như vậy liền đoán là thị vệ đi tuần đêm, bèn đáp: “Nô tỳ là cung nữ theo đoàn hộ tống.” Trong lòng nàng sợ bị trách phạt nhưng đợi một hồi lâu cũng không thấy người nọ nói tiếp. Cuối cùng, nàng đành to gan nhìn trộm một cái, thấy một góc áo dài màu tím đỏ, rõ ràng chẳng phải trang phục của thị vệ. Nàng ngẩng lên, dưới ánh trăng sáng, người thanh niên nọ đứng giữa những cây lau như một cành lau cứng cáp đón gió, mặt mũi chính trực, góc cạnh rõ ràng, ánh mắt lại vô cùng dịu dàng, hắn hỏi: “Cô nương đứng trong nước không thấy lạnh sao?”

Mặt nàng liền đỏ bừng, vội cúi thấp đầu, thấy chân mình để trần dưới làn nước xanh trong lại càng ngượng ngùng hơn. Nàng muốn mau mau lên bờ, không ngờ đá cuội trên lớp bùn rất trơn, khiến nàng lảo đảo trong lúc vội vàng, suýt ngã nhào, may là người nọ nhanh tay nhanh mắt kéo lấy khuỷu tay nàng, nàng mới đứng vững. Ngay từ đầu nàng đã rất ngượng ngùng, gót chân của nữ tử dân tộc Mãn rất quý, không thể tùy tiện để người khác nhìn thấy. Nàng thất lễ với nam tử xa lạ này như vậy nên xấu hổ đến mức vành tai cũng đỏ ửng, đành nói khẽ: “Phiền người quay mặt đi để nô tỳ đi giày.”

Người nọ hơi ngẩn ra rồi xoay người. Nàng đi giày xong liền lặng lẽ thỉnh an với bóng lưng hắn coi như tạ ơn rồi yên lặng đi theo bờ sông trở về. Nàng bước đi nhẹ nhàng, nam tử kia đứng ở đó không nghe thấy nàng nói, cũng không tiện quay người lại. Nghe tiếng nước chảy róc rách, gió thổi cành lá xung quanh làm vang lên tiếng xào xạc. Hắn đứng một lúc lâu, cuối cùng không kìm được quay người lại, chỉ thấy ánh trăng sáng mềm mại như nước, lau sậy dập dờn, làm gì còn ai.

Hắn hơi lưỡng lự, xong vỗ tay hai tiếng. Hai thị vệ xuất hiện sau thân cây, khom người hành lễ với hắn. Hắn chỉ vào chiếc khăn lụa trắng trên chạc cây khô rồi hỏi: “Đó là cái gì?”

Một thị vệ trả lời: “Nô tài đi xem!” Hắn nói rồi đi lùi xuống, tới bờ sông thì hơi nghiêng người với lấy chiếc khăn, dâng lên bằng hai tay trước mặt hắn. “Bẩm chủ nhân, là một chiếc khăn.”

Hắn cầm lấy. Chiếc khăn lụa trắng hơi ẩm, mang theo hơi nước thanh khiết của con sông và một hương thơm xa xăm. Chỉ vàng nhạt thêu hoa văn hình mây tứ hợp như ý, vô cùng nhã nhặn.

Lâm Lang về đến lều nhưng tim vẫn đập thình thịch. Không biết người nọ là ai, vừa rồi quá lúng túng nên không nhìn được đầu mối gì từ y phục của hắn ta. Nàng thầm đoán chắc là vương công đại thần hộ tống đi săn, nhất định mình đã tùy tiện bước vào nơi đóng quân của người ta. Tâm trạng nàng lo lắng, bất an. Người Ngọc Trợ phái đi đưa áo đã quay trở lại, bẩm rằng: “Lý công công nhìn thấy thì rất vui mừng, bảo hôm khác sẽ đích thân đến cảm tạ cô cô.”

Ngọc Trợ cười, nói: “Không cần cảm tạ ta, cảm tạ sự khéo tay của Lâm Lang là được rồi.” Vừa cúi đầu liền nhìn thấy đôi giày của Lâm Lang, nàng “ôi chao” một tiếng: “Sao lại ướt thế này?”

Lúc này Lâm Lang mới nhớ ra, vội đi thay đôi giày ướt. “Con đi rửa tay ở bờ sông nên làm nó bị ướt.”

Hôm sau, lúc nàng đang là y phục trong lều thì nghe thấy tiếng tiểu thái giám hỏi bên ngoài: “Ngọc cô cô có trong này không? Lý công công tới thăm cô cô.”

Ngọc Trợ vội vàng ra tiếp đón, thỉnh an xong bèn cười, nói: “Công công làm Ngọc Trợ giảm thọ mất.”

Lý Đức Toàn chỉ cười cười. “Ngọc cô cô không cần khách sáo!” Lại đưa mắt nhìn tứ phía. “Người vá chiếc áo hôm qua không biết là vị cô nương nào?”

Ngọc Trợ vội gọi Lâm Lang ra chào. Nàng đang định cúi người thỉnh an thì Lý Đức Toàn đã nhanh nhẹn giữ nàng. “Cô nương không cần đa lễ, may mà có sự khéo tay của cô nương nên chúng ta mới không bị trách phạt. Hôm nay Hoàng thượng nhìn thấy chiếc áo đó còn hỏi là ai đã vá lại.” Hắn còn khen thêm vài câu rồi mới đi.

 

[1] Chỗ ở tạm thời của Hoàng đế khi xuất cung.

 

Advertisements

Tịch mịch 5.2

Mọi người đáp một tiếng “vâng”, cuống cuồng đi trải chăn, dọn dẹp rồi đi ngủ.

Chăn đệm của Lâm Lang vừa vặn ở bên Ngọc Trợ. Nàng trằn trọc một lúc lâu, khó đi vào giấc ngủ. Lẳng lặng nằm nghe tiếng loạt soạt bên ngoài lều, hình như có tiếng báo canh ba ở phía xa xa. Trong lều yên tĩnh, còn nghe rõ tiếng ngáy khẽ, liên tục của những người đang ngủ say. Ai ai cũng ngủ say rồi, nàng không nén nổi tiếng thở dài khẽ khàng. Ngọc Trợ lại hỏi nhỏ: “Còn chưa ngủ sao?”

Lâm Lang khẽ tạ lỗi: “Nô tỳ có bệnh lạ giường, nhất định là đã đánh thức cô cô rồi.”

Ngọc Trợ nói: “Ta cũng thế, thay đổi chỗ là ngủ không yên giấc.” Ngừng một lát rồi tiếng lí nhí lại vang lên: “Xem tình hình hôm nay thì Dụ vương gia có chút xúc động, sau này chắc con có chỗ dựa rồi.”

Trong bóng đêm, nàng cảm thấy hai gò má nóng bừng. Một lúc lâu sau lại nói như thì thầm: “Cô cô, đến người cũng trêu con?”

Ngọc Trợ đáp khẽ: “Con biết ta không nói đùa. Dụ vương gia là huynh trưởng của Hoàng thượng, sắc phong thân vương. Nếu như vương gia mở miệng nói một tiếng với Hoàng thượng hoặc Thái hậu thì con cũng coi như thoát ra được rồi.”

Lâm Lang không lên tiếng, một lúc sau mới đáp: “Cô cô, con nào có phúc phận lớn vậy!”

Ngọc Trợ cũng lặng im, sau một hồi lâu mới khẽ thở dài một tiếng. “Nói thật thì… nếu như Dụ vương gia thật sự mở miệng xin Hoàng thượng cho con đi thì ta cũng thấy thiệt thòi thay con, số của con còn tiến xa hơn mới đúng.”

Tiếng cô cô rất nhỏ, chỉ nói khe khẽ bên tai Lâm Lang, nhưng Lâm Lang nghe rõ cả, cuối cùng mới nói khẽ sau cơn kinh hãi: “Cô cô nói như vậy… Lâm Lang đến mơ cũng không dám.”

Tâm sự của mấy ngày gần đây, Ngọc Trợ cuối cùng cũng nói ra được, trong lòng thấy yên tâm, vẫn là tiếng thì thầm bên tai như cũ: “Thật ra mấy năm nay ta ở trong cung, chỉ có mình con khiến ta cảm thấy mỗi người đều có số phận riêng. Cô cô cũng đã già, nếu như thật sự có ngày đó thì coi như cô cô này đã không nhìn nhầm.”

Lâm Lang cầm lấy tay cô cô, đáp: “Cô cô nói khiến người ta phát sợ, con làm gì có phúc lớn như vậy! Cô cô đừng nói những lời khiến con giảm thọ nữa.”

Ngọc Trợ vỗ vỗ lên tay nàng, chỉ nói: “Ngủ thôi!”

Hôm sau lại là một ngày trời nắng đẹp. Vì xuất cung đi săn nên mọi việc đều được giản lược. Lâm Lang thấy y phục vẫn chưa được giặt liền xung phong đi giặt giúp. Tháng Ba mùa xuân, cỏ tươi tốt điểm xuyết vài bông hoa dại, nàng đi trên đường đánh động đám chim bướm sặc sỡ. Bốn, năm người khiêng giỏ y phục lớn, giặt giũ bên bờ sông nước chảy róc rách.

Lâm Lang vừa đập mấy cái bỗng kêu “ôi trời” một tiếng. Nàng vốn không quen giặt giũ bên sông, không để ý nên giày bị thấm nước, dưới chân lành lạnh, giày bị ướt hết cả. Nhìn thấy mấy người kia vẫn đang đứng bằng chân trần, giẫm giẫm ở chỗ nước nông, nàng cười, hỏi: “Tuy là mùa xuân nhưng lội nước, các tỷ không thấy lạnh sao?”

Một cung nữ liền đáp: “Giờ cũng quen rồi, ngược lại còn thấy thú vị nữa, muội cũng qua đây thử xem!”

Lâm Lang thấy làn nước xanh biếc, trong veo, cuối cùng thì bản thân vẫn có vài phần nhát gan, cười cười, nói: “Muội cứ thấy sợ sợ… Nước chảy xiết như thế…”

Cung nữ bên cạnh bật cười. “Nước nông như vậy sao mà cuốn nổi muội?”

Nàng chỉ lắc đầu cười, đáp: “Không được, muội không dám đâu.”

Đang lúc cười nói, bỗng thấy một tiểu cung nữ thở hổn hển, chạy tới từ phía cánh rừng. “Lâm Lang tỷ tỷ, mau, mau… Ngọc cô cô bảo tỷ quay về.”

Nàng giật mình, chiếc áo bằng lụa Giang Ninh trong tay trôi dập dềnh theo dòng nước, nàng liền giơ tay giữ lại. Đưa giỏ y phục với cái dùi đập cho cung nữ khác rồi theo tiểu cung nữ đi về lều. Ngọc Trợ đang ngồi buồn bã trong lều, thấy nàng bước vào thì vội vàng gọi đến bên, đưa cho nàng xem một chiếc áo kép màu xanh lam. Lâm Lang nhìn chiếc áo gấm đó được thêu hoa văn rồng liền biết là áo của Hoàng đế, trên phía vai áo có một vết rách dài khoảng một tấc. Ngọc Trợ nói: “Sáng nay lúc Hoàng thượng đang đi săn, chiếc áo này vướng vào cành cây rồi rách thành như thế. Mà đợt này đi thì những người khâu vá giỏi đều ở lại trong cung mất rồi, con xem xem có thể vá lại được không?”

Lâm Lang đáp: “Cô cô đã có lời, đáng ra con nên cố gắng thử một lần, nhưng đây là áo của Hoàng thượng, con sợ khâu không đẹp lại liên lụy tới cô cô.”

Ngọc Trợ tiếp lời: “Lần này đi, không ngờ thời tiết lại ấm áp như vậy, chỉ mang theo ba chiếc áo kép. Không chừng buổi tối Hoàng thượng sẽ muốn thay, quay về kinh lấy thì không kịp. Mấy người của Tứ Chấp Khố đang lo lắng như kiến bò trên chảo lửa, nóng ruột quá mới đưa tới chỗ chúng ta. Ta biết khả năng của con, không sao đâu, con thử đi!”

Lâm Lang nhìn kĩ chiếc áo, nàng đi lấy khung thêu, trải lên. Đầu tiên là chỉnh lại sợi vải, sau đó nhìn cẩn thận một hồi mới nói: “Bây giờ lấy chỉ vàng kim này ở đâu đây?”

Ngọc Trợ nói: “Ta thấy chỗ con có chỉ đó.”

Lâm Lang đáp: “Chỉ sợ vá lên không được giống hoàn toàn, hoa văn mây này lại không có màu vàng kim, e là may vào không hợp.” Trên mặt Ngọc Trợ có vẻ lo lắng, sốt ruột, Lâm Lang ngẫm nghĩ: “Con cứ vá lên đã, rồi xem có cách nào khác không.”

Không thể khâu nhầm dù chỉ là một sợi chỉ trên chiếc áo này. Lâm Lang tách từng sợi chỉ, nối thêm chỉ vào rồi bắt đầu khâu ngang khâu dọc. Đến hai canh giờ mới vá xong vết rách, nhưng nhìn cẩn thận thì vẫn thấy có một sợi màu nhạt hơn, chẳng thể giấu đi được. Ngọc Trợ thở dài một tiếng. “Cũng chỉ có thể làm đến vậy.”

Lâm Lang nghĩ ngợi một lát rồi lại chọn sợi chỉ. Nàng thêu một đám mây tứ hợp như ý[1] ở chỗ bị rách. Ngọc Trợ thấy nàng thêu được một nửa thì đã vỗ tay khen, đợi đến lúc thêu xong thì chỗ rách được che vừa hết. Lâm Lang cười nhẹ. “Phía vai bên kia cũng phải thêu một đám mây nữa thì mới giấu được.”

Đến khi thêu hoa văn bên vai áo còn lại xong, nhấc chiếc áo lên ngắm nghía thì quả nhiên không chê vào đâu được, cứ như mới vậy. Ngọc Trợ nắm tay Lâm Lang, không kìm được sự vui mừng.

 

 

[1] Hoa văn hình mây bốn phía hợp lại với nhau, ý chỉ vạn sự như ý.

 

Tịch mịch 5.1

Nàng trầm ngâm một lát, đoạn cầm cây tiêu lên thổi khúc Tiểu trùng sơn.

“Xuân đến Trường Môn tươi cỏ cây. Cây mai hoang nhú nụ, hãy chưa đơm. Ấm xanh xanh còn hãm này trà, cho một chén, tỉnh bừng từ trong mơ. Hoa ngả bóng cửa sau. Trăng thanh soi rèm thưa, ráng chiều xinh. Hai năm ba bận phụ xuân tình. Đương trở lại, tất phải hưởng xuân nay.”

Ngọc Trợ không hiểu nhạc lý, chỉ thấy tiếng tiêu trong trẻo, lành lạnh, nhẹ nhàng nhưng bi thương đến rung động. Nghe trong đêm yên tĩnh, như kể như khóc, tiếng tiêu vang đi vọng lại, quanh quẩn vương vấn, như đem theo ánh trăng, tươi đẹp khó nói nên lời. Một khúc tiêu vừa thổi xong, trong lều vẫn lặng im như cũ.

Một lúc lâu sau, Ngọc Trợ mới cười, nói: “Ta chẳng nói được là chỗ nào hay, nhưng mà một lúc lâu sau mà vẫn cảm thấy tiếng tiêu kia cứ như đang vấn vương bên tai.”

Lâm Lang khẽ cười. “Cô cô quá khen rồi, chẳng qua là con học chơi thôi.” Nàng còn chưa dứt lời thì chợt nghe tiếng thiết hoàng nọ lại vọng tới từ xa.

“Tiếng thiết hoàng lại thổi lên rồi, như có ý hợp xướng cùng chúng ta vậy.” Ngọc Trợ nói.

Lần này thổi khúc Nguyệt xuất. Khúc này thường nghe từ đàn cầm, Lâm Lang chưa từng nghe ai dùng thiết hoàng thổi. Âm thanh phát ra từ thiết hoàng vốn lanh lảnh, thổi khúc nhạc xưa như khúc này lại đem theo một luồng gió mới, khiến người ta có cảm giác hoàn toàn mới mẻ.

Thế nhưng trong tiếng thiết hoàng kia như tồn tại sự ngang ngược, hoàn toàn không có ý tứ than thở, đau buồn như trong lời ca, ngược lại còn có ba phần thong dong. Thiết hoàng thổi xong khúc Nguyệt xuất thì ngừng lại một lúc lâu, rồi lại bắt đầu thổi từ đầu. Cuối cùng, Lâm Lang không kìm được, liền thổi tiêu hợp xướng. Một tiêu một thiết hoàng cùng nhau diễn tấu, vậy mà lại vô cùng ăn ý. Trong một khúc nhạc, tiếng thiết hoàng lanh lảnh, dứt khoát, tiếng tiêu nhỏ nhẹ, ngân dài. Tuy những người khác không hiểu, chỉ thấy nghe êm tai, lại đoán xem người thổi thiết hoàng kia là ai rồi cười đùa trêu nhau. Lúc đang cười đùa ầm ĩ thì chiếc mành bất ngờ được vén lên, theo đó là mấy người vây quanh một người cùng bước vào.

Những người trong lều đồng loạt nhìn người vừa tới. Người đi đầu có phong thái hiên ngang, khoảng hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, đầu đội một chiếc mũ gấm màu đen có khuy trên đỉnh, thêu hai chữ “vạn thọ” bằng chỉ đỏ, áo dài đỏ thẫm, hoa văn tròn chữ phúc, bên ngoài là chiếc áo tay ngắn chỉ tới khuỷu. Khi nhìn quanh thì rất có khí khái, ánh mắt nhanh nhẹn, quét qua một lượt tất cả những người ở đó. Mọi người không ngờ lại có một vị khách không mời xông vào, nhìn cách ăn mặc của người này thì chẳng phải quan lại cũng chẳng phải binh, hoàn toàn không biết vì sao trong đoàn hộ tống ngự giá lần này lại có người như thế, họ không khỏi kinh ngạc, đứng im tại chỗ.

Duy chỉ có Lâm Lang hơi giật mình rồi hành lễ. “Nô tỳ bái kiến Dụ vương gia, vương gia vạn phúc kim an!”

Lúc này, mọi người trong lều mới như bừng tỉnh từ giấc mộng, vội vàng quỳ xuống, dập đầu thỉnh an.

Phúc Toàn vẫy vẫy tay cho qua, ý bảo mọi người đứng dậy. “Người vừa rồi thổi tiêu là ai?”

Lâm Lang đáp nhỏ: “Là nô tỳ.”

Phúc Toàn “ồ” một tiếng rồi hỏi: “Ngươi biết ta từ trước?” Tuy hắn hay ra vào cung nhưng theo quy định trong cung thì tất nhiên là bình thường chẳng thể gặp người ở hậu cung. Hắn mặc thường phục nên mới qua mắt được người trong lều, không ngờ nữ tử này vẫn nhận ra thân phận của hắn.

Lâm Lang đáp: “Nô tỳ chưa từng có phúc được biết mặt vương gia.”

Phúc Toàn hơi ngạc nhiên. “Vậy tại sao ngươi lại biết…”

Lâm Lang đáp khẽ: “Chiếc áo ngoài của vương gia chắc chắn là do được Hoàng thượng ban thưởng.”

Phúc Toàn cúi đầu nhìn, cổ tay áo hơi lộ ra lớp lông chồn đen sáng mượt, theo lệ chỉ có y phục của Hoàng đế mới được dùng lông chồn đen. Cho dù thân phận cao quý như thân thích của Hoàng đế hay đại thần cũng không thể vượt quá bổn phận. Hắn không ngờ mình để lộ ra sơ hở ở đây, không khỏi cười, nói: “Đúng, đây là áo do Hoàng thượng ban thưởng.” Trong lòng hắn thầm tán thưởng sự nhanh nhẹn và tỉ mỉ của nữ tử này. Nhìn nàng đứng nghiêm túc nơi đó, ánh mắt hơi nhìn xuống, mặt mày không phải kiểu xinh đẹp tuyệt trần, thế nhưng dưới ánh đèn, ánh sáng chiếu vào khiến khuôn mặt như có ánh ngọc. Phúc Toàn ho khẽ một tiếng rồi nói: “Vừa rồi ngươi thổi tiêu hay tuyệt.”

Lâm Lang đáp: “Chẳng qua là ngày nhỏ nô tỳ từng được học qua, nhất thời to gan, làm bẩn tai vương gia, xin vương gia thứ tội!”

Phúc Toàn nói: “Không cần khiêm tốn, tối nay trăng đẹp như vậy, thích hợp để nghe tiếng tiêu, ngươi thổi thêm một khúc đi!”

Lâm Lang nghĩ ngợi một lát rồi thổi khúc Cửu vực. Lời của khúc Cửu vực này vốn là ca ngợi Chu Công. Chu Công là con trai của Văn Vương, em trai của Vũ Vương, từ nhỏ đã hiếu thảo hơn người. Khi Vũ Vương lên ngôi thì lại lấy sự trung thành để phò trợ Vũ Vương. Nàng lấy khúc này để đáp lại lệnh vương là vô cùng thích hợp, không những ca tụng Phúc Toàn, mà còn so sánh tiên đế và Hoàng đế bây giờ với hai vị Hoàng đế tài đức là Văn, Vũ. Phúc Toàn nghe khúc này không thể không cười nhẹ, nghe xong hắn mới hỏi: “Ngươi từng được học hành sao?”

Nàng đáp: “Bẩm, chỉ là học được đôi ba chữ mà thôi!”

Phúc Toàn gật gật đầu, nhìn chung quanh rồi bất chợt hỏi: “Các ngươi làm nhiệm vụ gì?”

Lúc này Ngọc Trợ mới kính cẩn đáp: “Bẩm vương gia, chúng nô tỳ đều thuộc phòng Giặt đồ.”

Phúc Toàn “ừ” một tiếng, chợt nghe thấy tiếng động từ ngoài lều, một tiểu thái giám bước vào, thấy Phúc Toàn liền mừng rỡ thỉnh an: “Hóa ra vương gia ở đây, làm nô tài tìm mãi… Hoàng thượng đang tìm vương gia ạ!”

Phúc Toàn nghe thấy vậy thì vội dẫn đám người rời đi. Sau khi hắn đi khỏi thì trong lều như bùng nổ. Ngọc Trợ vỗ vỗ ngực, hít một hơi sâu rồi nói: “Thật là làm ta giật cả mình, không ngờ đúng là Dụ vương gia. Lâm Lang, may mà con lanh lợi!”

Lâm Lang đáp: “Cô cô là người từng trải, chỉ vì chúng ta ở trong cung xưa nay chưa từng gặp người bên ngoài nên cô cô mới nhất thời không ngờ tới mà thôi.”

Ngọc Trợ đi đến bên cửa lều, nhìn ra ngoài xem sắc trời rồi nói: “Đi trải chăn đệm đi, ngày mai còn phải dậy sớm làm việc.” 

Tịch mịch 4.2

Ngọc Trợ nhìn nàng. Nàng đang bệnh, gương mặt còn có chút tiều tụy, mái tóc đen nhánh làm nền cho khuôn mặt trắng nõn, một đôi mắt dịu dàng làm người ta rung động. Ngọc Trợ khẽ gật đầu một cái rồi nói: “Con ấy à, người thì xinh đẹp, chỉ tiếc đẹp không đúng kiểu.”

Lâm Lang tiếp lời: “Hôm nay cô cô sao thế? Cô cô nói mấy lời nô tỳ không hiểu gì hết.”

Ngọc Trợ đáp: “Thêm than vào rồi đi ngủ đi, trời lạnh quá! Ôi chao, lập xuân thì tốt rồi!”

Nàng nghe lời cô cô, đáp “vâng” một tiếng rồi đi tới thêm than, nhưng sau đó lại cầm kim thêu, nương theo ánh đèn thêu một lúc. Đợi Họa Châu trở về rồi cùng nhau đi ngủ. Nàng bị nhiễm gió lạnh mà lại không chịu nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, buổi tối còn ngồi thêu thùa, một việc mất nhiều sức nhất. Đến canh tư nửa đêm về sáng thì phát sốt. Họa Châu đợi đến lúc trời hửng sáng thấy nàng sốt đến mức mặt đỏ bừng thì vội đi báo cho Ngọc Trợ. Ngọc Trợ nhanh chóng đi báo tổng quản, mời thầy thuốc tới khám bệnh.

Lần này nàng bị bệnh rất nặng, triền miên đến nửa tháng, ngày nào cũng uống thuốc nhưng chẳng đỡ được là bao. Sốt cũng không hạ, lúc nào cũng mê man. Nàng đang mơ màng ngủ, tựa như trở về lúc nàng bị bệnh khi mười lăm tuổi, mở mắt thấy cửa sổ mới được dán giấy màu xanh biếc. A hoàn đứng bên cửa sổ dùng cái siêu bạc đun thuốc cho nàng, từng đợt từng đợt hương thuốc tràn ngập căn phòng. Ngoài cửa sổ, gió đang thổi những bông hoa lay động. Ánh trăng mềm mại như mặt nước, hắt bóng cành hoa nghiêng nghiêng lên cánh cửa sổ, vô cùng đẹp đẽ. Nàng nghe thấy tiếng bước chân trên lối rẽ hành lang kia ngày càng gần, vừa quen thuộc vừa thân thiết. A hoàn cười dịu dàng, bẩm: “Đại gia đến thăm cô nương.” Đến khi nàng ngồi dậy thì hắn đã vươn một bàn tay vừa nóng vừa lạnh đặt lên trán nàng.

Nàng hoảng hốt đến bừng tỉnh, trên cửa sổ dán một lớp giấy vải màu trắng tuyết cực dày, không để một luồng gió len vào. Siêu thuốc đang đặt trên lò, tiếng nước sôi sùng sục vang lên liên hồi. Nàng toát mồ hôi khắp người. Tiểu cung nữ đi vào, vội vàng nhấc siêu thuốc xuống, nói với nàng bằng giọng vui vẻ: “Lâm Lang tỷ tỷ, tỷ tỉnh rồi. Họa Châu tỷ tỷ sắp sang hầu hạ Thái hậu, mọi người đều đang chúc mừng tỷ ấy.”

Đầu óc Lâm Lang vẫn còn mơ hồ, thấy tiểu cung nữ đổ thuốc ra một bát to, đầy ăm ắp rồi bưng tới. Nàng cầm lên, chỉ thấy bát thuốc đen kịt, uống vào đắng đến tận lục phủ ngũ tạng. Sau lưng lại dinh dính mồ hôi, trán, tóc tai cũng ẩm ướt, tóc mai dính bết, chỉ có trái tim trống rỗng một khoảng.

Đến mùa xuân, Lâm Lang mới dần khỏe lại. Mấy ngày gần đây, trong cung lại đang bận rộn chuẩn bị cho cuộc đi săn. Ngọc Trợ thấy Lâm Lang ngày càng khỏe lại, đã có thể làm việc như trước nên rất vui mừng, nói: “Hoàng thượng muốn đi săn ở Bảo Định, phòng Giặt đồ chúng ta cũng phải sửa soạn đi theo hầu hạ. Con khỏe lại làm ta yên tâm rồi.” Vì Lâm Lang làm việc cẩn thận, chu đáo nên Ngọc Trợ liền đến bẩm tổng quản, ghi tên nàng vào danh sách cung nữ theo hộ tống.

Từ sau khi vào cung, Lâm Lang chưa từng bước ra ngoài cung nửa bước nên lần này rời khỏi kinh thành, nàng vừa vui lại vừa buồn. Vui là thi thoảng nhìn qua rèm xe, thấy phố xá, thành quách vẫn y như xưa. Buồn là vì thiên tử đi săn, chín thành đều giới nghiêm. Phố phường do nha môn đề đốc chín thành, cùng với Tiền Phong doanh, Kiêu Kỵ doanh, Hộ Quân doanh, do ngự tiền đại thần phụ trách thống lĩnh dẹp đường. Tất cả những nơi ngự giá đi qua, bên đường đều được giăng bạt màu vàng, do binh sĩ ba cánh quân bảo vệ. Đừng nói là người dân rảnh rỗi, chỉ sợ đến một con chuột cũng bị đuổi xa mười dặm. Trên con đường đất vàng, xa xa chỉ thấy nghi thức loan giá dài dằng dặc, xung quanh được bảo vệ bởi Hổ Thương doanh, hàng ngũ dài hơn mười dặm. Thật ra nàng mới vào cung chưa lâu, chỉ biết kỷ luật quân đội nghiêm ngặt, giờ thấy thiên binh vạn mã, chỉ nghe thấy tiếng bước chân đều đặn, tiếng bánh xe lăn lộc cộc, đến một tiếng ho cũng không có.

Đến buổi tối thì hạ trại, lều trại cũng nối tiếp nhau san sát mấy dặm. Ngọn đuốc thông to cháy hừng hực, sáng như ban ngày. Mấy ngày liền, ánh trăng bị những ngọn đuốc này làm cho lu mờ, ảm đạm. Trên bình nguyên mênh mông, trăng treo trên cao, trời đêm yên tĩnh, chỉ nghe thấy tiếng củi cháy lách tách liên hồi. Lúc binh sĩ trực ở các lều trại đi tuần qua lại, áo giáp sắt cọ xát vào nhau tạo thành tiếng “ding dang”. Cái bóng đen của họ phản chiếu lên lều bạt, trông y như người khổng lồ.

Lâm Lang nương theo ánh đèn sửa xong chiếc áo màu xanh lam thêu rồng thành hình tròn hai bên sườn thì chợt nghe xa xa có tiếng đàn sáo, có người đang thổi thiết hoàng. Ở nơi hoang vu này, dưới ánh trăng yên bình, âm thanh vô cùng rõ ràng, khiến người ta rung động. Nó cứ ngân nga vang vọng, quanh quẩn lên xuống không ngừng.

Ngọc Trợ ngạc nhiên “ồ” một tiếng, hỏi: “Ai đang thổi thế?”

Lâm Lang lắng tai nghe kĩ, chỉ thấy tiếng thiết hoàng kia xao động, dường như có âm thanh kim loại chen vào. Người thổi dường như có thể khuất phục trăm ngàn binh sĩ dũng mãnh. Nàng buột miệng: “Nhất định là một vị đại tướng quân dẫn binh đánh trận đang thổi.”

Ngọc Trợ hỏi: “Sao con biết?”

Nàng khẽ cười, đáp lời: “Chẳng qua là con đoán bừa thôi.”

Đến đoạn cuối, âm thanh của chiếc thiết hoàng lại càng mãnh liệt, lanh lảnh rồi dừng lại, dư âm vẫn còn vang vọng, giống như ánh trăng kia, chiếu thẳng vào lòng người. Ngọc Trợ cảm thán: “Thổi hay quá, khiến người nghe còn tưởng chưa hết. Lâm Lang, không phải con biết thổi tiêu sao, thổi một khúc nghe xem!”

Nàng đáp: “Con không thổi được đâu, chỉ biết sơ sơ mà thôi, đâu đủ khả năng thổi cho người khác nghe.”

Ngọc Trợ cười. “Cũng đâu phải trong cung, chỉ có mấy người chúng ta, con đừng giấu được không? Ta biết con là người không rời nổi chiếc tiêu, vậy nên hôm nay con không thể không thổi một khúc.”

Lần này, phòng Giặt đồ có khoảng hơn mười người đi hộ tống, đều là người trẻ tuổi, chỗ dựng trại quy củ không nghiêm ngặt, đã muốn gây chuyện từ lâu. Nghe được câu này của Ngọc Trợ, trong lòng họ vô cùng chờ mong, mồm năm miệng mười vây quanh Lâm Lang khiến nàng không chịu nổi sự huyên náo, ầm ĩ này, đành rút cây tiêu ra, nói: “Được rồi, mọi người đã muốn nghe thì muội cũng xin thổi một khúc. Nhưng mà nói trước nhé, nếu như nghe xong, ba tháng sau vẫn không nuốt trôi miếng thịt thì muội cũng mặc kệ đó.”

 

Tịch mịch 4.1

Gió đêm mang hơi lạnh mùa xuân rét căm căm, lạnh đến thấu xương. Ngày hôm sau, Lâm Lang thức dậy liền cảm thấy uể oải, khó thở. Nàng cố gắng làm việc hơn nửa canh giờ. Họa Châu liền hỏi: “Không phải muội bị nhiễm lạnh rồi đấy chứ? Nửa đêm qua thấy muội trở mình suốt trên giường.”

Lâm Lang đáp: “Muội đâu có yếu ớt đến vậy, lát nữa uống bát canh gừng thì sẽ khỏe ngay thôi.” Không ngờ sau đó một lúc thì nàng bắt đầu sốt.

Ngọc Trợ thấy mặt nàng đỏ bừng liền đi đến nắm tay nàng, thở dài một tiếng, than thở: “Ta thấy sắc mặt con không tốt, sao người lại nóng thế này? Mau đi nằm nghỉ một lát đi!”

Lâm Lang vẫn gắng gượng. “Không cần đâu ạ!”

Họa Châu đi đến đẩy nàng đi, đỡ nàng lên giường rồi nói: “Muội cứ đi nằm nghỉ một lát, cũng chẳng còn mấy việc đâu.”

Lâm Lang cảm thấy mình vô cùng mệt mỏi, chẳng bao lâu đã chìm vào giấc ngủ mê man. Người nàng phát sốt, loáng thoáng nghe thấy như có tiếng mưa rơi, thế rồi cũng dần tỉnh lại. Lúc này mới nghe có tiếng nói chuyện to nhỏ ở gian ngoài. Tiếng nói rất nhỏ, nàng nằm trên giường im lặng, mãi lâu sau mới nghe câu được câu chăng. Hình như Ngọc Trợ đang nói chuyện với ai đó. Cả người nàng toát mồ hôi, giờ thấy nhẹ nhàng, khoan khoái hơn một chút. Lúc mở to mắt nhìn mới biết hóa ra đã gần đến giờ Dậu rồi.

Nàng ngồi dậy mặc áo khoác, lại chải chải đầu, chỉ là không biết ai đang ở bên ngoài nên chần chừ một lúc mới vén rèm lên. Một vị ma ma đang ngồi trên chiếc giường ở gian ngoài, tuổi tầm trên dưới bốn mươi. Bà ta mặc áo dài gấm xanh có thêu ẩn hình hoa mai và cỏ linh chi, trên đầu ngoài chiếc mũ dẹt vuông vắn viền vàng nạm ngọc thì chỉ có một bông hoa, tay cầm một miếng đồng gảy gảy than trong lò sưởi cầm tay. Trên tay trái có hai giáp bảo vệ dài ba tấc đồi mồi hình chữ thọ tròn khảm ngọc, nó đụng vào chiếc lò phát ra âm thanh. Y phục, trang sức của bà ta sang trọng không kém các vị chủ nhân. Ngọc Trợ thấy Lâm Lang vén rèm đi ra, vội vẫy tay gọi nàng. “Đây là Anh ma ma hầu hạ bên cạnh Thái hậu.”

Lâm Lang vội vàng thỉnh an. Anh ma ma lại cực kỳ khách sáo, duỗi tay vừa đỡ vừa dìu nàng. Khi nàng ngẩng mặt lên thì vị Anh ma ma kia chợt ngẩn người, rồi nắm tay nàng, nhìn một hồi, hỏi: “Tên là gì? Vào cung bao lâu rồi?”

Lâm Lang trả lời từng câu một xong, Ngọc Trợ mới hỏi: “Khỏe hơn chút nào chưa? Sao đã dậy rồi?”

Lâm Lang đáp: “Đã khiến cô cô bận lòng, chỉ là nhiễm gió lạnh, lúc này con đã thấy đỡ nhiều.”

Ngọc Trợ liền bảo nàng: “Đi ăn cơm đi, mấy đứa Họa Châu đã đi hết rồi.”

Đợi nàng đi khuất, Ngọc Trợ mới nói với Anh ma ma: “Ma ma chọn đứa nhỏ này sao?”

Anh ma ma cười một tiếng, đáp: “Đứa nhỏ này có dáng người thanh tú, tuy không phải là hoàn hảo nhưng cũng hiếm thấy. Chỉ là đáng tiếc… ta với ngươi cũng chẳng phải người ngoài, nếu nói một câu không câu nệ thì là như thế này: ta thấy đứa trẻ đó có ba phần dáng vẻ, phong cách giống với Đoan Kính Hoàng hậu của lão chủ nhân.”

Ngọc Trợ nghe xong câu này, quả nhiên một lúc lâu không nói được lời nào, cuối cùng mới nói: “Trong mấy đứa nhỏ ở đây, tính ra thì nó là người dịu dàng, chu đáo nhất, thêu thùa, may vá cũng thành thạo, làm việc gì cũng suy nghĩ chín chắn, chỉ đáng tiếc… đúng là không có phúc.”

Anh ma ma nói: “Thái hậu muốn chọn một người phù hợp để hầu hạ bên cạnh cũng chẳng phải mới ngày một ngày hai. Chỉ là, tuy hậu cung lớn người đông nhưng không biết con người, tính tình như thế nào, chúng ta cứ từ từ tìm vậy.” Đột nhiên nhớ ra một chuyện, bà ta liền hỏi: “Vừa rồi ngươi nhắc đến tên Họa Châu, đó là ai? Cái tên thật thú vị.”

Ngọc Trợ đáp: “Tên của đứa nhỏ này kể ra cũng có nguồn gốc riêng. Nghe nói là lúc mang thai nó, mẫu thân nó mơ thấy một vị tiên đưa đến một cuộn tranh, lúc mở ra xem thì thấy trên bức tranh chỉ vẽ một viên trân châu Đông Bắc rất lớn. Từ đó mới đặt tên nó là Họa Châu.”

Anh ma ma “ai da” một tiếng. “Đứa nhỏ này có lẽ cũng có chút lai lịch, ngươi gọi đến để ta nhìn xem.”

Ngọc Trợ sai tiểu cung nữ: “Đi gọi Họa Châu tới.”

Chỉ chốc lát sau Họa Châu đến, Ngọc Trợ bảo nàng thỉnh an Anh ma ma. Anh ma ma thấy nàng có khuôn mặt trắng bóc, tròn trịa, sáng sủa như mặt trăng, mặt mày thanh tú, liền hỏi: “Bao nhiêu tuổi rồi?”

Họa Châu đáp: “Năm nay mười sáu ạ!” Nàng vừa nói vừa cười, để lộ hàm răng trắng như ngọc, ngây thơ khiến người ta rung động. Trong lòng Anh ma ma đã có ba phần yêu thích, lại hỏi: “Là người nhà nào? Họ gì?”

Họa Châu trả lời: “Phú Sát thị ạ!”

Anh ma ma cảm thán: “Ôi trời, vòng vo cả nửa ngày, hóa ra lại là người một nhà.”

Ngọc Trợ liền cười, nói: “Khó trách đứa nhỏ này hợp với ma ma như vậy. Người ta bảo nhà Phú Sát sinh ra mỹ nhân, quả nhiên không sai. Lúc ma ma còn trẻ cũng là một mỹ nhân, đứa nhỏ Họa Châu này cũng cực kỳ đoan trang.”

Anh ma ma đặt cái lò sưởi cầm tay xuống, nắm tay Họa Châu rồi nói với Ngọc Trợ: “Ngươi lại trêu bà già này rồi. Ta thì làm gì phải mỹ nhân, chỉ là một người không bằng ai mà thôi!”

Họa Châu đã sớm không nhịn được cười, Anh ma ma lại hỏi thêm nàng rất nhiều. Nàng vốn là người thích đông vui, náo nhiệt, hỏi một câu liền đáp hơn ba câu khiến Anh ma ma vô cùng vui vẻ. Bà nói: “Cẩn thận, chín chắn đương nhiên là tốt, nhưng nếu trong cung ai ai cũng là người thận trọng, chín chắn cả, quanh năm suốt tháng như vậy thật khiến người ta sinh buồn. Đứa nhỏ này thích cười thích nói, có lẽ Thái hậu cũng sẽ thích.”

Ngọc Trợ vội nhắc Họa Châu: “Anh ma ma cất nhắc con như vậy, còn không mau dập đầu tạ ơn ma ma?”

Họa Châu vội vàng dập đầu. Anh ma ma nhanh chóng giơ tay đỡ nàng. “Mọi chuyện còn phải bẩm lên Thái hậu, xin lão nhân gia người định đoạt nữa, ngươi vội dập đầu làm gì! Đợi tin chính xác vào ngày mai rồi tạ ơn ta cũng chưa muộn.”

Ngọc Trợ đứng một bên cười, nói: “Ma ma là người đắc lực nhất của Thái hậu, ma ma đã vừa mắt đứa nhỏ này, chắc chắn nó cũng sẽ hợp ý Thái hậu.”

Quả nhiên Anh ma ma vô cùng vui vẻ. “Chẳng qua là theo chủ nhân từ lâu nên biết được một chút về tính tình của người. Chúng ta phận làm nô tài, sao có thể thay Thái hậu quyết định được.” Rồi đứng dậy, nói: “Đã muộn rồi, ta phải về hầu hạ Thái hậu.”

Ngọc Trợ vội đứng dậy tiễn, lại bảo Họa Châu: “Trời tối rồi, châm đèn đi tiễn ma ma.”

Họa Châu vâng lời châm đèn đến, Anh ma ma vịn vào nàng rồi đi. Lâm Lang ăn cơm xong quay về phòng, thấy Ngọc Trợ đang ngồi một mình kiểm tra y phục, bèn tiến tới giúp một tay. Ngọc Trợ không khỏi thở dài lặng lẽ. “Con còn đang bệnh, đi nghỉ trước đi!”

Lâm Lang nói: “Con nằm cả nửa ngày rồi, giờ làm việc một lúc cũng tốt ạ!”

Ngọc Trợ lại nói: “Mỗi người đều có duyên số của mình, cưỡng cầu vô ích.”

Lâm Lang cười khẽ, hỏi: “Sao cô cô lại nói như thế?”