Những tháng năm hổ phách (phần II) – chương 3.2

Năm nay nhà máy Hồng Cơ cũng làm ăn thất bát, mẹ Đàm Hiểu Yến phải nghỉ việc. Phụ nữ bốn chục tuổi muốn tìm việc khác chẳng dễ dàng gì, gặp hết tai này nạn kia, cuối cùng đành sắm một chiếc xe ba bánh bán canh ma lạt năng kế bên trường Nhị Trung. Ngoài mấy món canh cay nóng ăn vặt bà còn bán thêm mỳ nước rất tiện cho học sinh trong trường ăn trưa. Khách hàng của bà cũng chủ yếu là học sinh trường Nhị Trung tranh thủ giờ giải lao ra ngoài ăn uống. Mỗi ngày chẳng kiếm được bao nhiêu nhưng cuối tháng trừ hết chi phí vẫn dư ra chút đỉnh.

Mới đầu Đàm Hải Yến còn xấu hổ chuyện mẹ bán hàng rong bên cạnh trường, sợ bạn bè biết được sẽ khinh rẻ mình nên mở miệng là thầm than thở, bảo mẹ dọn đi chỗ khác bán hàng.

Cô Đàm bực mình giáo huấn con gái một trận, mắng oanh oang như sấm: “Có cái gì mà xấu hổ? Mẹ có đi ăn trộm ăn cướp cũng vì chúng mày, có gì mà mất mặt xấu hổ? Huống hồ mẹ đây tay làm hàm nhai, bỏ công bỏ sức ra kiếm tiền thì sao phải xấu hổ? Sợ người ta nói này nói nọ mất mặt hả? Được thôi! Hàng này mẹ không bán nữa! Một tháng được hơn trăm đồng tiền tạm thôi việc, mua gạo nấu cháo loãng cầm hơi cũng không chết đói, bất quá từ nay đừng hòng nay đòi ăn cái này, mai đòi mua cái kia nữa!”

Đàm Hải Yến lần đầu thấy mẹ giận đến mức ấy, nhất thời nín thinh.

“Dù gì mẹ con trước kia cũng vinh dự đứng trong hàng ngũ giai cấp công nhân, con nghĩ mẹ con muốn ra đường bán hàng rong thế này lắm sao? Chẳng qua mẹ cũng hết cách rồi, mà tiền vẫn phải kiếm. Giờ con vẫn còn đi học, sau này còn bao nhiêu việc cần đến tiền. Mẹ con vì cái nhà này mới muối mặt bám vỉa hè, giờ con còn bảo mẹ làm con xấu hổ với bạn bè. Con muốn chọc mẹ tức chết mới hả à?”

Bị mẹ nghiêm khắc giáo huấn một trận, nỗi hổ thẹn xóa mờ chút hư vinh trong lòng Đàm Hiểu Yến. Chẳng những cô không giấu giếm bạn bè chuyện mẹ bán canh ma lạt năng nữa mà còn thường xuyên khoe mẹ mình có quầy bán canh ma lạt trong con hẻm gần trường, rồi mời mọi người qua ăn thử, nếu ngon thì năng lui tới.

Từ ngày mẹ mở tiệm ma lạt năng, Đàm Hiểu Yến thường xuyên kéo Tần Chiêu Chiêu cùng qua ăn mỳ ma lạt trong nồi đất miễn phí. Một hai lần thì không sao, lâu dần Tần Chiêu Chiêu cũng sinh ngượng. Nhưng cô Đàm là người sáng ý, thường tủm tỉm mà bảo: “Chiêu Chiêu à, sau này con cứ cùng Hiểu Yến đến đây ăn trưa, đồ ăn trong trường vừa đắt vừa không ngon mà về nhà lại xa quá. Hiểu Yến vẫn khoe con học giỏi lắm, vẫn thường giúp đỡ nó nhiều. Thôi thì hàng ngày qua đây ăn với dì bát mỳ coi như thay dì chỉ bảo Hiểu Yến con nhé!”

Thành tích học tập của Hiểu Yến trên lớp rất bình thường. Thật ra cô là người thông minh, có điều học lệch nghiêm trọnL; điểm ngữ văn rất cao, bài của cô luôn được giáo viên đọc trước lớp làm mẫu nhưng toán – lý – hóa thì lơ mơ, bết bát. Lúc làm bài cùng nhau, Tần Chiêu Chiêu luôn phải giảng giải lại các vấn đề toán, lý, hóa cho cô. Rõ ràng Hiểu Yến thông minh lanh lợi là vậy, chẳng hiểu sao động vào phương trình bậc hai lại mơ mơ hồ hồ như thế. Kết thúc luôn là ráo hoảnh một câu: “Thôi thôi, không làm nữa, chúng mình nói chuyện phiếm đi.”

Những cuộc tán gẫu của họ thường xoay quanh những mối quan hệ với các bạn nam; Tần Chiêu Chiêu sẽ nói về Kiều Mục còn Đàm Hiểu Yến nói về một cậu tên Trịnh Nghị.

Trịnh Nghị học cùng Đàm Hiểu Yến hồi tiểu học, là con trai giáo viên toán của lớp. Ấy là một cậu nhóc trắng nõn, dáng vẻ tuấn tú; năm sáu tuổi vì cao lớn hơn chúng bạn mà cậu dược tuyển vào trường thể dục thể thao của thành phố. Học được vài năm cha mẹ xót con trai học hành vất vả nên quyết định chuyển cậu về trường học bình thường. Từng học ở trường thể dục thể thao nên khi chuyển sang trường mới, trong giờ thể dục cậu chỉ tùy tiện thể hiện một chút là đủ khiến cả lớp được phen sửng sốt.

Đàm Hiểu Yến vẫn nhớ rõ có lần trong tiết thể dục Trịnh Nghị biểu diễn nhào lộn một tay trên sân thể dục, lộn liên tục bảy tám cái, cuối cùng tiếp đất vững vàng chỉ bằng một chân; một loạt động tác linh hoạt duyên dáng đủ khiến cô bé ngây ngẩn nhìn mãi không thôi. Từ ấy, hình bóng cậu nam sinh mạnh mẽ in sâu trong tâm hồn non nớt của cô gái trẻ.

Trịnh Nghị chỉ học cùng cô một học kì thì ba cậu chuyển công tác về quê cũ ở Nam Xương, cậu đi theo ba. Ngày cậu chuyển đi, rất nhiều học sinh trong lớp theo trào lưu ngày ấy mua sổ tặng cậu, Đàm Hiểu Yến cũng cực kì cẩn thận chọn một cuốn. Trịnh Nghị không còn đến trường nữa nên lớp trưởng thay mặt cả lớp thu hết sổ nhờ giáo viên toán chuyển giùm nhưng cô chỉ cười khách sáo nói: “Trịnh Nghị chuyển đi mất rồi, sổ này các em mang về dùng đi!”

Cuốn sổ ấy không tặng được nhưng Đàm Hiểu Yến cũng không nỡ mang ra dùng mà cẩn thận cất kĩ trong ngăn kéo. Đây là thứ duy nhất có chút liên hệ với Trịnh Nghị mà cô có được.

Sở dĩ Đàm Hiểu Yến có ấn tượng sâu sắc như thế về Trịnh Nghị là do trong số bạn bè cùng trang lứa cô chưa từng gặp ai đặc biệt được như cậu. Cậu học sinh từ trường thể dục thể thao chuyển tới mang theo một cảm giác mới mẻ hoàn toàn khác so với những cô cậu học trò ngày ngày bên cạnh.

Trịnh Nghị đối với Đàm Hiểu Yến cũng giống như Kiều Mục đối với Tần Chiêu Chiêu, tựa như một dải cầu vồng rực rỡ len vào giữa những tháng ngày bình dị như thước phim đen trắng của hai cô bé. Một thứ ánh sáng đẹp đẽ khiến họ không thể không yêu thích, ngưỡng mộ.

Những tháng năm hổ phách (phần II) – chương 3.1

Chương ba

 

Học ở Nhị trung, Tần Chiêu Chiêu ngồi cùng bàn với Đàm Hiểu Yến, lâu dần hai người thành bạn tốt có chuyện gì cũng kể nhau nghe.

Ngày khai giảng, hai người giới thiệu bản thân. Đàm Hiểu Yến vừa nghe đã thích mê tên của Tần Chiêu Chiêu: “Tên nghe hay quá, thật êm tai lại đặc biệt, chả bù tên mình bình thường quá!”

Tên Tần Chiêu Chiêu là do ba đích thân mở từ điển ngâm cứu rồi đặt cho, ba cô không phải người học hành chữ nghĩa nhưng đặt tên cho con gái cưng nhất định phải chọn một cái tên văn vẻ mới được. Mấy cái tên tầm thường kiểu A Linh, A Trân, A Cầm, A gì đó… ông nhất định không động tới. Ban đầu ba rất ưng cái tên “Hi” nghĩa là “ánh ban mai”, nhưng mẹ lại bảo chữ này khó viết quá không muốn đặt cho con, lúc sau thấy tên “Úc” nghĩa là “đẹp đẽ” cũng được nhưng mẹ vẫn gàn chữ này chẳng mấy người biết, đến lúc ấy có tên mà chẳng ai biết đọc thì phải làm sao. Cuối cùng, ba vô tình lật tới trang có hai chữ “Chiêu Chiêu” có nghĩa là “sáng láng, rõ ràng” này, âm đọc lên vang vang, lại dễ viết, ý nghĩa cũng sáng sủa đẹp đẽ; mà mẹ cô cũng khen chữ này hay. Vậy liền đặt tên con gái là “Chiêu Chiêu“.

Đàm Hiểu Yến cũng là con một gia đình công nhân giống Tần Chiêu Chiêu, ba mẹ cô công tác ở nhà máy động cơ diezel Hồng Kỳ, thường gọi tắt là nhà máy Hồng Cơ. Nhà máy và khu tập thể nằm ở ngoại ô phía tây thành phố, cũng là một vùng nửa phố nửa quê. Hai nhà gia cảnh tương đồng nên gặp nhau nói chuyện đặc biệt ăn ý hòa hợp. Cái gọi là “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, người ra sao thì kết giao cùng kiểu người thế ấy cũng thật có đạo lý, những người xuất thân, gia cảnh tương đồng thường dễ thành bạn bè với nhau.

Trong lớp, nữ sinh có điều kiện nhất là Chung Na, ba mẹ cô làm việc ở bệnh viện thành phố. Cả nhà ba người sống khá thoải mái trong căn nhà mới ba phòng ngủ một phòng khách trang hoàng đẹp đẽ. Chung Na cũng rất nhiệt tình hiếu khách, thường mời các bạn nữ trong lớp về nhà chơi. Tần Chiêu Chiêu có ghé qua một lần, vừa vào cửa là ngẩn người. Lần đầu tiên cô được thấy ngôi nhà rộng rãi, đẹp đẽ như vậy. Nhà cửa thoáng mát, rộng rãi, sáng sủa; sàn nhà trắng tinh không một hạt bụi; bên cạnh chiếc tivi lớn trong phòng khác còn bày một chiếc máy quay phim hiếm thấy thời ấy. Chung Nam mở băng cho các bạn xem, còn bày hai đĩa bánh kẹo đầy ắp lên bàn trà mời mọi người.

Tuy Chung Na nhiệt tình như vậy nhưng các bạn trong lớp đã tới một lần đều không muốn đến thêm lần thứ hai. Đa số học sinh trong lớp gia cảnh bình thường, mà nhà cô khá giả như vậy, so sánh hai bên không khỏi có chút tủi thân trong lòng.

Đến thăm nhà Chung Na trông lại nhà mình, tuy giờ nhà cửa đã được sửa sang cơi nới nhưng Tần Chiêu Chiêu vẫn không khỏi cảm thấy nó thật nhỏ hẹp, âm u.

Hai năm trước nhà kế bên chuyển khỏi Trường Cơ, Tần ba ở gần được hưởng luôn ngôi nhà bỏ lại có diện tích, bài trí hệt như nhà mình, vì thế nhà Tần Chiêu Chiêu rộng ra gấp đôi. Tần ba lại nối thông hai phòng trong nhà kia rồi hai vợ chồng ông dọn sang đó ở, căn phòng mười mét vuông cũ giờ thành phòng riêng của Tần Chiêu Chiêu, phòng nhỏ trở thành phòng khách kiêm phòng ăn. Chỗ ở coi như cũng mở rộng ít nhiều. Có điều nhà trong khu tập thể thật sự quá cũ rồi. Nghe nói dãy nhà tập thể này được xây từ thời mới lập nhà máy, đến giờ cũng ngót ba chục năm, chẳng những rêu cỏ xanh rì chân tường mà đến những kẽ hở trên mái ngói cũng có cỏ lan. Nhìn nhánh cỏ nảy mầm trong khe ngói hẹp con người không khỏi cảm khái sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của loài cỏ yếu mềm. Nhà đã ba chục tuổi cũ kĩ, gặp mưa là dột tứ tung, thường phải mang chậu ra hứng. Gặp những lúc không ai ở nhà, nước mưa cứ thế dột xuống ướt lênh láng sàn, ướt cả chăn mền; lúc về chỉ biết mang chăn chiếu đi hong cho khô.

Gia cảnh nhà Đàm Hiểu Yến cũng không khá giả hơn, nhà cô nằm trong dãy nhà ngang của khu tập thể Hồng Cơ, mỗi tầng có một hành lang dài nằm giữa hai dãy nhà. Trên hành lang la liệt đủ thứ đồ lặt vặt, ngay chỗ rộng nhất gần chân cầu thang bày chình ình một cỗ quan tài của nhà nào đó. Lúc còn nhỏ mỗi lần nhìn thấy cái quan tài nằm đó Đàm Hải Yến lại sợ rúm người, không bao giờ dám lên cầu thang một mình. Một dạo như vậy, ngày nào cô cũng úm bà lão nhà kia chết cho mau để người ta mang quan tài đi chôn, không còn án ngữ ở cầu thang mà dọa cô nữa. Thế nhưng ít lâu sau lại có quy định hỏa táng người chết, bà lão nhà ấy chết được đưa đi hỏa táng chỉ còn một nhúm tro cốt, chiếc quan tài chuẩn bị sẵn không được dùng đến, cũng chẳng có chỗ nào mà cất nên cứ để mãi bên cầu thang như thế.

Sau lần tới chơi nhà Chung Na, Đàm Hiểu Yến vô cùng buồn bực: “Sao Chung Na sướng thế nhỉ? Ở nhà rõ đẹp! Mình mà đổi được cho cậu ấy thì tốt quá, không phải ra ra vào vào đều chạm mặt cỗ quan tài kia.”

Trong lòng Tần Chiêu Chiêu cũng ao ước như vậy, giống như trước kia cô vẫn ngưỡng mộ ba Kiều Mục là Giám đốc, ba Tả Chí Binh là cán bộ thu mua, giờ lại ao ước cha mẹ là bác sĩ như bố mẹ Chung Na, có thể sống sung sướng. Nếu được thế thì thật, cô cũng muốn đánh đổi.

Chỉ là mặc kệ cô ngưỡng mộ, ước ao tới đâu cũng vô dụng, họ vẫn là họ, vĩnh viễn chẳng bao giờ cô có thể thế chỗ họ.

 

Những tháng năm hổ phách (phần II) – chương 2.2

Bình thường, các tiệm vật liệu xây dựng đều dùng xe lửa chuyển mấy chục tấn hàng, sau đó dùng ôtô chở tới thành nam, cuối cùng tìm mấy người bốc vác dỡ hàng xếp vào kho, xong việc trả công mấy trăm đồng cho mọi người chia nhau. Có lần nhận được một mối lớn, cần chuyển sáu mươi tấn gạch lát sàn mà nhóm của Tần ba chỉ có sáu người. Việc thế này ít ra cũng cần tám người, nhưng nhiều người thì ít tiền đi, bọn họ nguyện không kêu thêm người, mỗi người ráng vất vả thêm một chút. Lần đó dỡ hàng suýt soát một ngày, mỗi người được năm mươi đồng mang về. Về nhà, Tần mẹ phát hiện hai vai chồng sưng u nhưng mặt lại vô cùng vui vẻ: “Mình xem, hôm nay làm ăn phát đạt, kiếm được những năm chục đồng này.”

Tần mẹ nắm giá thị trường, vừa nhìn thấy năm mươi đồng nhẩm tính ra biết hôm nay chồng đã khuân bao nhiêu hàng liền kinh hô: “Lão Tần, hôm nay mình dỡ những chục tấn hàng sao?”

Tần Chiêu Chiêu đang ở trong buồng làm bài tập, nghe tới đây liền kinh ngạc dựng người. Học toán trên lớp được dạy một tấn tương đương một ngàn kilogram, mười tấn là mười ngàn kilogram, bằng hai vạn cân Trung Quốc. Ngày hôm nay ba cô vác tận hai vạn cân hàng. Con số này đối với cô thật khổng lồ, thật không tưởng tượng nổi làm thế nào mà ba có thể dỡ hết chừng đó hàng.

Lại nghe thấy tiếng ba vui vẻ vọng vào: “Thế này có đáng gì, một thùng gạch lát năm chục cân, chỉ khuân có hai trăm thùng thôi mà.”

Dỡ hai trăm thù gạch nặng như vậy mới được hai trăm đồng, tính ra tiền công mỗi thùng chỉ hơn một hào.Tần Chiêu Chiêu nhẩm tính so sánh tổng lượng công việc với tiền công dỡ mỗi thùng gạch mà hốc mắt đỏ hoe, ba thật vất vả quá.

Tần mẹ nín lặng, hai giọt nước mắt rớt xuống chiếc khăn ấm chườm trên vai chồng, nháy mắt giọt nước mắt mất hút dưới lớp khăn, như chưa từng tồn tại.

 

Gia cảnh nhà Tần Chiêu Chiêu sa sút còn nhà Kiều Mục vẫn như cũ. Tuy tình hình nhà máy xuống dốc chỉ có thể dùng mấy chữ “cố níu hơi tàn” mà hình dung nhưng lãnh đạo nhà máy vẫn ổn định chẳng có gì thay đổi. Nghe nói sắp tới Phó giám đốc Kiều còn được điều tới Cục Cơ khí thành phố.

Kiều Mục lên cấp hai bắt đầu học dương cầm. Ba mẹ cậu không tiếc tiền mua hẳn một cây dương cầm giá hơn một vạn cho con học đàn, tiền này chủ yếu do ông bà ngoại ở Thượng Hải tài trợ. Họ Mục có hai con bị đưa xuống nông thônm chỉ một đứa còn về được Thượng Hải, hai lão nhân gia già cả thương con gái tha hương nên càng yêu quý cháu ngoại, không tiếc tiền cho cháu. Rất nhiều người ở Trường Cơ không khỏi tấm tắc: “Nhà tư bản đúng là khác người!”

Hôm mang đàn về, rất nhiều người trong khu tập thể kéo lại xem. Ở Trường Cơ đa số mọi người chỉ biết món đồ Tây dương sang quý này qua tivi chứ chưa từng thấy đồ thật, vì thế không thể bỏ lỡ dịp này được. Tần Chiêu Chiêu cũng đi theo mọi người, thấy chiếc đàn thật lớn, mấy người phải khệ nệ mới đưa được nó lên tầng ba. Đàn lên tới nơi, không lâu sau tiếng đàn du dương trong trẻo từ trên lầu vọng xuống.

Ngày nào cũng thế, cứ xế chiều, Tần Chiêu Chiêu tan học về nhà chuẩn bị nấu cơm lại nghe thấy tiếng đàn miên man từ lầu ba bên cạnh truyền sang. Hai đứa trẻ cùng tuổi nhưng hai bàn tay Kiều Mục đang lướt trên phím dương cầm trắng muốt còn tay Tần Chiêu Chiêu khua giữa nồi niêu bát đũa. Ba mẹ nghỉ việc nhà máy ra ngoài làm thêm đều vất vả việc chân tay, cô ở nhà phải chuẩn bị cơm nước để ba mẹ về là có sẵn đồ ngon lành nóng sốt.

Trước khi nấu cơm phải đổi than trong lò, nhặt viên than tổ ong đã tàn bỏ đi, thay viên mới vào. Cô dùng kẹp sắt gắp cục than mang ra ngoài, nhưng kẹp không chắc viên xỉ than rơi bịch trên nền nhà, vỡ vụn thành vô số mảnh xỉ, bụi bay mù mịt, khói ươm đầy căn bếp nhỏ.

Tần Chiêu Chiêu ngây ngẩn nửa ngày nhìn xỉ than vương vãi đầy sàn. Cô mong giá mình là nàng Lọ Lem, nếu cô có thể là Lọ Lem… Thế nhưng, lấy đâu ra thế giới cổ tích giữa đời thực?

Những tháng năm hổ phách (phần II) – chương 2.1

 

Chương 2

 

Tần Chiêu Chiêu còn nhớ, năm thứ hai trung học cũng là lúc thời kì hưng thịnh nhất của nhà máy không còn nữa.

Thập niên 90 của thế kỉ XX dưới tác động của chính sách Cải cách kinh tế toàn diện khiến nền kinh tế tập trung kế hoạch chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường. Suốt quá trình chuyển đổi, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp phá sản, công nhân viên chức thất nghiệp, tạm thôi việc, nghỉ không lương. “Công nhân mất việc” và “Nghỉ không lương” đã trở thành những danh từ riêng chỉ có trong thời kì này.

Thành phố công nghiệp bé nhỏ nằm trong lòng Giang Tây cũng bị ảnh hưởng của xu thế chung, 90% các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ bị đình trệ, tạm ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng. Tạm thôi việc cũng là chuyện công nhân viên chức các xí nghiệp ở đây không thể trốn tránh, một chuyện khiến người ta đau lòng.

Là nhà máy lớn của nhà nước, Nhà máy cơ kí Trường Thành không đến mức phá sản ngay nhưng cũng phải tạm ngừng sản xuất. Công nhân trong xưởng từng tốp từng tốp bị cho nghỉ không lương. Chẳng những tinh giảm biên chế mà bệnh viện, nhà máy, hàng quán thuộc nhà máy cũng dần dần đóng cửa; chi nhánh ngân hàng, bưu điện được rút về thành phố. Mẹ Tần Chiêu Chiêu bị cho nghỉ việc trước, mấy tháng sau phân xưởng của ba cô cũng thông báo ngừng sản xuất.

Tạm thôi việc có thể coi là tin dữ đối với rất nhiều công nhân, nhất là những người đã làm việc trong nhà máy một hai chục năm. Phải nghỉ việc ở tuổi này một một chuyện vô cùng khó xử; người lớn tuổi có thể lo lót xin về hưu non, người trẻ tuổi có thể đi học nghề khác kiếm kế sinh nhai. Nếu còn trẻ, bắt đầu lại từ đầu cũng không đến nỗi khó; chỉ khó với những công nhân chơi vơi, không đủ già để đạt đủ tiêu chuẩn xin về hưu, mà cũng không còn trẻ để dễ dàng chuyển qua nghề khác bắt đầu lại từ đầu. Đã hơn bốn chục tuổi, tuổi này mới đi tìm việc thật nói dễ hơn làm.

Đối với những gia đình cả nhà là công nhân nhà máy như nhà chị Tiểu Đan, chuyện này càng khó chấp nhận bởi đột nhiên cả nhà cùng thất nghiệp. Nhớ lại ngày ấy khó khăn lắm mới dành được suất vào làm trong nhà máy, trong lòng vui mừng nhường nào. Vẫn tưởng rằng vào được một đơn vị nhà nước, có được một chỗ làm tin cậy, ổn định là có thể thể yên ổn một đời. Ai ngờ được, nhà máy quốc doanh lớn như vậy cũng có ngày suy sụp? Một khi nhà máy suy tàn công nhân nào còn an ổn, tổ chim bị phá trứng còn nguyên vẹn được sao?

Cơn bão thôi việc không thể tránh khỏi cuối cùng lan tới Trường Cơ, công nhân mất việc ai nấy mặt mũi buồn rầu ảm đạm, ánh mắt mơ mơ màng màng không biết nên đi đâu về đâu.

Nửa đời làm việc trong nhà máy tới giờ cả hai vợ chồng Tần gia đều bị cho tạm nghỉ, trừ một trăm hai mươi đồng phí trợ cấp thôi việc mỗi người mỗi tháng ra, cả nhà không còn nguồn tài chính nào khác. Điều kiện Tần gia vốn đã không tốt, thêm lần này nữa đúng là càng họa vô đơn chí. Ngày ba nghỉ việc, ông ngơ ngẩn ngồi hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác, căn phòng nhỏ ươm mùi khói. Còn mẹ nín lặng nằm trên giường cả ngày.

Tần Chiêu Chiêu biết thời gian này ba mẹ không vui nên đi học về liền một mình lao vào căn bếp nhỏ, giằng co đánh vật với xoong chảo nửa ngày, mồ hôi nhễ nhại mới chạy ra ngoài nói: “Ba mẹ, ra ăn cơm thôi!”

Đây là lần đầu tiên Tần Chiêu Chiêu tự mình nấu cơm, trước đó cô mới chỉ được mẹ dạy rang cơm, rán chứng mà thôi. Cơm cô nấu ra đương nhiên không ngon lành gì: cơm cháy khét, cải trắng xào quá lửa xém vàng, đậu hũ cháy đen cả, canh trứng cà chua nhiều muối mặn chát… Thế nhưng vợ chồng Tần gia lại ăn hết sạch, một miếng không chừa.

Tối hôm đó, chờ Tần Chiêu Chiêu ngủ rồi, Tần ba mới thận trọng nói với mẹ: “Từ giờ cuộc sống vất vả hơn, nhưng vì Chiêu Chiêu chúng ta phải nghĩ cách tiếp tục sống cho tốt, mình thấy có phải không?”

Tần mẹ nước mắt nhạt nhòa: “Ừ, chúng ta nhất định phải vượt qua ải này, vì con gái, nhất định phải ráng vượt qua.”

Phân xưởng ngừng sản xuất, ba cùng mấy bác trong nhà máy ra ngoài kiếm việc lặt vặt làm thêm. Chỗ này cần người lắp máy móc thì đi theo nửa tháng, chỗ kia cần người gia công sản phẩm thì qua làm năm ba ngày, làm xong nhận tiền công luôn. Mẹ nhờ người quen giới thiệu xuống chợ xin một chân trông coi tiệm áo ngủ.

Có khi vài ngày không ai thuê, cả nhà miệng ăn núi lở, mọi người trong nhà khó tránh tinh thần hoảng loạn. Ba liền cùng mấy chú bác tới chợ chuyên buôn bán vật liệu xây dựng phía nam thành phố làm công nhân bốc vác, giúp người ta dỡ hàng. Hàng hóa phần lớn là những rương gạch men nặng trĩu, vác những thứ này vô cùng mấy sức, tiền công lại rẻ, dỡ một tấn mới được năm đồng. Bởi vì đây là việc chân tay, chẳng cần kĩ thuật gì phức tạp nên trả công cực kỳ rẻ mạt.

Những tháng năm hổ phách (phần II) – chương 1.2

Vào học trung học, có một thời gian Tần Chiêu Chiêu đọc rất nhiều truyện cổ tích từ “Truyện cổ Grim” tới “Truyện cổ tích Andersen”… Con gái luôn thích truyện cổ thích, cô cũng không ngoại lệ, luôn luôn mơ tưởng về thế giới hư ảo mỹ lệ thuần khiết trong truyện cổ, còn cả những chàng hoàng tử anh tuấn cao quý nữa. Hình ảnh hoàng tử đẹp đẽ cô vẫn mường tượng ra chính là Kiều Mục.

Tất nhiên sẽ là Kiều Mục, cũng chỉ có thể là Kiều Mục mà thôi. Trong cuộc đời ngắn ngủi của Tần Chiêu Chiêu, Kiều Mục là người cao quý nhất trong số bạn bè cùng trang lứa; trong mắt cô, Kiều Mục hoàn toàn xứng đáng là hoàng tử.

Kiều Mục không giống với đám trẻ bình thường. Cậu nhóc Thượng Hải này khác xa lũ con nít trong khu tập thể Trường Cơ. Chẳng ai thấy bóng cậu trong đám con trai mải miết nghịch đất cát, đánh trận giả, lặn ngụp dưới sông hay leo cây bới tổ chim. Hầu hết thời gian cậu chỉ ở trong nhà tập đàn, thỉnh thoảng theo ba mẹ ra ngoài tản bộ, đi lòng vòng trên đường lớn quanh nhà máy.

Mỗi khi ba người nhà Phó giám đốc Kiều ra ngoài có rất nhiều người lân la tới chào hỏi. Phó giám đốc Kiều cũng khách khí nhắc con trai chào hỏi lại, Kiều Mục sẽ dùng thứ tiếng phổ thông cực kì chuẩn xác chào hết ông, bà, cô bác một lượt; đây là chuyện có một không hai trong khu tập thể nhà máy.

Ngày ấy, khái niệm phổ cập tiếng phổ thông vẫn còn rất mờ nhạt, nhất là tại một nhà máy quốc doanh nằm ở ngoại thành hẻo lánh thế này. Đa số công nhân nhà máy đều là dân bản xứ, nói giọng địa phương, con nít lớn lên học theo cha mẹ cũng nói toàn phương ngữ. Thậm chí có lần giờ Ngữ văn giáo viên gọi học sinh đứng lên đọc diễn cảm bài khóa vẫn có học trò đọc bằng giọng địa phương, khiến thầy cô dở khóc dở cười. Tiếng phổ thông thường chỉ thấy trên các bản tin truyền thanh truyền hình hoặc vài trường hợp đặc biệt quan trọng khi các cán bộ lãnh đạo dùng thứ tiếng phổ thông trọ trẹ thông báo một vài quyết định quan trọng hay báo cáo với cấp trên. Người bình thường dùng tiếng địa phương sẽ bị coi là “làm phách”.

Tiếng phổ thông của Kiều Mục là do mẹ dạy từ thuở nhỏ, phát âm cực kì chính xác, không lẫn chút khẩu âm địa phương nào. Người qua đường nghe cậu bé nói tiếng phổ thông chính xác như vậy không ngớt khen ngợi. Ai nấy đều khen cậu nhóc ăn nói đĩnh đạc như vậy sau này nhất định làm lớn.

Trong số những người khen ngợi Kiều Mục có cả mẹ Tần Chiêu Chiêu. Lúc ấy Tần Chiêu Chiêu đi cùng mẹ, nghe thấy Kiều Mục nói tiếng phổ thông thật là hay, cô liền cảm thấy giọng địa phương của mình khó nghe muốn chết. Nghe thấy mẹ giục chào Giám đốc Kiều nhưng cô bé vẫn cắn răng nín thinh, đỏ mặt cúi đầu nhất định không hé một lời.

Tuy rằng cúi mặt chẳng thấy được ai nhưng Tần Chiêu Chiêu vẫn cảm thấy rõ ràng Kiều Mục vừa tò mò nhìn mình. Ánh mắt như chuồn chuồn lướt cánh sen hồng, rất nhanh chuyển sang hướng khác, rất hời hợt cũng đủ khiến trái tim Tần Chiêu Chiêu rộn lên không ngừng từ khi về nhà tới tận lúc đi ngủ. Nằm thế nào cũng không ngủ được, đành dậy bật đèn mở sách Ngữ văn ra xem, cô quyết tâm từ giờ sẽ học nói tiếng phổ thông chuẩn như Kiều Mục.

Hôm sau Tần Chiêu Chiêu dậy sớm, ăn sáng rồi đi học.

Ruộng vườn sắc xanh óng ả phủ khắp vùng ngoại thành, mặt trời mới ló dạng rải rắc những tia nắng ấm áp, mây hững hờ trôi, gió dịu dàng thổi, vài cánh chim nhỏ đập cánh bay ngang bầu trời trong veo. Tần Chiêu Chiêu dừng xe ở ngã ba ngoái đầu nhìn lại con đường vừa đi, chờ đến khi thấy bóng Kiều Mục xa xa mới lại đạp xe tiếp nhưng đi rất chậm.

Kiều Mục bắt kịp Tần Chiêu Chiêu rất nhanh. Lúc tiếng xe cậu lướt ra tim cô khua rộn ràng như tiếng trống. Đợi cả một buổi sáng chỉ mong gặp được cậu, muốn mượn cớ rồi dùng tiếng phổ thông đã mất công luyện cả đêm qua để bắt chuyện với cậu. Tuy vất vả chờ được cậu nhưng cô lại không đủ dũng cảm ngẩng đầu nhìn cậu lấy một lần, càng không có dũng khí chủ động bắt chuyện, cổ họng như thể bị vật gì bít kín, không thốt được lời nào.

Một thoáng ngập ngừng, Kiều Mục đã đi lướt qua cô, mắt không chớp, hoàn toàn không để tâm thấy cô cứ thế đi thẳng.

Sáng sớm sương mờ chưa tan, trên mi Tần Chiêu Chiêu nước mắt đọng như sương.

Khóc một hồi cô lại mong mình có thể trở thành nàng Lọ Lem trong truyện cổ tích biết bao. Lọ Lem thật may mắn biết mấy! Được bà tiên giúp đỡ, có xe ngựa bí đỏ, có giày thủy tinh khiến nàng trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong buổi vũ hội, khiến hoàng tử liếc mắt đã chú ý tới nàng.

Ấp ủ tâm nguyện khờ khạo, Tần Chiêu Chiêu cũng bắt chước nhân vật trong cổ tích, vừa ngây thơ vừa thành kính cầu xin Thượng Đế, mong Người sẽ phái bà tiên tốt bụng tới bên mình. Đáng tiếc, đời thật không phải cổ tích, chẳng có Thượng Đế hay bà tiên nào hết, chẳng những hoàn cảnh không thể thay đổi mà còn tệ hại hơn.