Chân Hoàn 7.2

Tôi chẳng thèm ngẩng đầu, chỉ ngắm nghía, lựa chọn mấy mẫu hoa để thêu, thản nhiên đáp: “Như thế mới thể hiện được sự sủng ái của Hoàng thượng dành cho nàng ta chứ!” Sau đó chẳng ai lên tiếng nữa, trong phòng hoàn toàn tĩnh lặng, thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng than nổ lách tách. Bên ngoài cửa sổ, tiếng gió bấc gào rít tái tê, át tiếng cười nói, ca hát đang dần lùi xa. Giọng cười của nàng ta nghe thật kiêu ngạo, vang dội trong đêm tuyết tịch mịch, len lỏi qua vĩnh hạng và vô số cung điện trải dài vô tận trong hậu cung…

Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy tiếng xe Phượng Loan Xuân Ân, âm thanh đó cũng êm tai lắm. Tôi không biết tiếng xe đi suốt dọc đường sẽ thu hút được bao nhiêu lỗ tai và ánh mắt của các nữ nhân trong cung cấm. Cỗ xe tưởng như nhỏ bé ấy đè nặng bao nhiêu chờ mong, thất vọng, nước mắt và tiếng cười của bao thiếu nữ. Vào rất nhiều buổi chiều trong cung cấm, họ lặng lẽ đứng trong vườn, chờ đợi đến khi trăng lên cao tận đỉnh đầu, chỉ mong đợi được đến lúc cỗ xe Phượng Loan Xuân Ân dừng trước cửa cung, đưa mình đến tẩm cung của Hoàng đế.

Còn nhớ thuở nhỏ, tôi thường theo đại ca ngồi đọc bài Phú cung A Phòng của Đỗ Mục dưới cửa sổ chái tây, có mấy câu giờ nhớ lại mà sởn gai ốc: “Đám khói tà tà, sấm động kinh hồn. Tiếng xe chạy qua, nào biết đi đâu. Ầm ầm ở xa, mong được vua nhìn. Da thịt dung mạo, làm đỏm làm duyên. Đứng chờ xa xa, mong được vua nhìn. Có kẻ trông ngóng, ba mươi sáu năm liền!” Ba mươi sáu năm, chỉ e đó là cả cuộc đời của bao nhiêu người con gái! Làm đỏm làm duyên, nữ nhân trong cung ai chẳng đẹp như tiên trên trời, chỉ có điều sắc đẹp là thứ không bao giờ thiếu trong hậu cung này. Mỗi ngày đều có nhan sắc khác mới lạ hơn xuất hiện, mỹ nhân cũ già đi, mỹ nhân mới lại đến, thân thể trẻ trung hơn, vầng trán trơn bóng, đôi môi đỏ hồng, ánh mắt long lanh, vòng eo mảnh khảnh… Việc bọn họ làm nhiều nhất, quen thuộc nhất chẳng qua là “đứng chờ xa xa, mong được vua nhìn” mà thôi. Ở chốn hậu cung này, nữ nhân không được Hoàng đế sủng hạnh chẳng khác gì hình nhân giấy không có sinh mệnh, ngay cả gió thu ngẫu nhiên lướt qua cũng có thể quật ngã. Nhưng người được Hoàng đế sủng ái thì có thể cao gối ngủ ngon được chăng? Chỉ e ngày tháng của bọn họ còn đáng lo âu hơn những nữ nhân vô sủng kia, “lấy sắc giữ chân người, tốt đẹp được bao lâu”? Bọn họ càng sợ hãi cảnh bị thất sủng, càng sợ hãi cảnh già đi, càng sợ hãi có nữ nhân khác đẹp hơn, mỹ lệ hơn xuất hiện. Nếu không có tình yêu, sủng hạnh của đế vương cũng chẳng bền hơn giấy mỏng là bao. Nhưng tình yêu của bậc đế vương là thứ hiếm hoi nhất, thiếu thốn nhất trong hậu cung rộng lớn. Nữ nhân trong cung sẵn sàng vì địa vị, vinh hoa, ân sủng đi lấy lòng Hoàng đế, nhưng vì tình yêu thì… có ai nghe nói đến hay chưa…

Tôi chỉ cảm thấy đầu óc nhức nhối, khó chịu, bèn buông kim thêu xuống, nói với Hoán Bích: “Mùi than này khó ngửi quá, khiến ta nhức cả đầu, ngươi đi lấy trầm thủy hương lại đây!”

Hoán Bích chần chừ một lát rồi thưa: “Tiểu thư, phần hương tháng này vẫn chưa được lấy về, đã trễ mấy ngày rồi, để nô tỳ sai người đi hỏi thử xem sao!”

Tôi lập tức biết được lý do, nhất định người ở Nội vụ phủ khinh tôi vô sủng nên đã cắt xén phần của tôi. “Mấy ngày nay tuyết lớn, có thể người trong Nội vụ phủ lười biếng nên chậm trễ vài ba ngày thôi. Không sao, giờ có sẵn thứ hương nào thì cứ lấy ra đốt trước đã!”

Hoán Bích vâng dạ rồi vội vàng chạy ra lấy hương, vừa đến cửa đã “ôi chao” một tiếng kinh ngạc. “Thuần Thường tại, sao người lại đứng ở đầu gió một mình thế này, không sợ cảm lạnh sao? Xin mời vào!”

Tôi nghe thế thì lấy làm lạ, vội đứng dậy ra ngoài đón. Quả nhiên Thuần Thường tại đang đứng trước cửa cung, chóp mũi đỏ ửng vì lạnh, hai gò má tái nhợt, ngẩn ngơ không nói được tiếng nào. Tôi vội vã hỏi han: “Thuần Nhi, sao chỉ có mình muội đứng đây?”

Thuần Thường tại nghe tôi hỏi mới chầm chậm quay đầu lại, đôi mắt từ từ đảo một vòng, sắc mặt chợt biến đổi rồi òa lên khóc thành tiếng: “Hoàn tỷ ơi, muội sợ lắm!”

Tôi thấy tình hình không ổn, vội kéo nàng ta vào buồng sưởi, rồi bảo Tinh Thanh lấy lồng ấp đặt vào lòng nàng ta để sưởi ấm cơ thể, gọi Phẩm Nhi đem canh sữa nóng hổi đến hầu nàng ta uống cạn rồi mới từ từ hỏi thăm ngọn ngành.

Thì ra sau khi dùng cơm tối, tuyết rơi nhỏ lại, Sử Mỹ nhân đến chỗ Thuần Thường tại dùng cơm tối xong đang định hồi cung, Thuần Thường tại bèn tiễn nàng ta đi một quãng. Trời tối đường trơn, thắp đèn lồng dẫn lối, ai ngờ đèn lồng giấy trong tay cung nữ của Sử Mỹ nhân đột nhiên bị gió thổi cháy bùng lên, đúng lúc Diệu Âm nương tử ngồi trên xe Phượng Loan Xuân Ân đi qua, ngựa kéo xe thấy lửa thì hoảng sợ, dù ngự mã đã được huấn luyện kĩ càng, xa phu cũng phát hiện ra từ sớm nhưng vẫn khiến Diệu Âm nương tử ngồi trong xe bị chấn động một phen. Vốn chẳng phải chuyện gì to tát nhưng Diệu âm nương tử khăng khăng không chịu bỏ qua, Sử Mỹ nhân ỷ mình vào cung sớm hơn, địa vị còn cao hơn Diệu Âm nương tử, thêm vào đó, gần đây Diệu Âm được sủng ái, trong lòng Sử Mỹ nhân đã không vui, giọng điệu chẳng mấy dịu dàng. Diệu Âm nương tử trong lúc tức giận liền sai Dịch Đình lệnh bắt Sử Mỹ nhân giam vào Bạo thất. Tôi nghe kể mà bất giác rùng mình. Bạo thất là nơi giam giữ, hành hạ các phi tần bị phế truất hay cung nga phạm lỗi. Sử Mỹ nhân chưa bị phế truất, lại không phải là cung nữ, sao có thể bị giam vào Bạo thất được?

Tôi hấp tấp hỏi lại: “Đã đi thỉnh ý chỉ của Hoàng thượng hay Hoàng hậu chưa? Chẳng lẽ Hoàng thượng và Hoàng hậu không ai nói gì sao?”

Thuần Thường tại ngơ ngác lắc lắc đầu, giơ tay lau lệ, đáp: “Nàng ta… Diệu Âm nương tử nói chuyện nhỏ không cần làm phiền đến Hoàng thượng và Hoàng hậu, nếu kinh động đến Hoàng thượng, Hoàng hậu thì sẽ lôi Dịch Đình lệnh ra trị tội.”

Tôi càng cảm thấy bất ngờ hơn, Diệu Âm nương tử không có lệnh của đế hậu, tự hạ lệnh bắt cung tần giam vào Bạo thất, ngang ngược như thế là cùng!

Khóe môi tôi từ từ cong lên thành nét cười nhưng sau đó lại lập tức khôi phục lại vẻ thản nhiên, trầm tĩnh như thường. Hành động ỷ được sủng ái mà kiêu ngạo, nói năng không cẩn thận như vậy, chỉ e khí số đã đến lúc tận rồi.

Tôi an ủi Thuần Thường tại hồi lâu rồi lệnh cho Tiểu Liên Tử và Phẩm Nhi tiễn nàng ta về cung. Thật cũng tội cho nàng ta, còn nhỏ như vậy đã phải vào thâm cung đối diện với nỗi khiếp sợ thế này.

Sáng sớm hôm sau, My Trang và Lăng Dung vội vã sang chỗ của tôi. Tôi đang dùng bữa sáng, thấy bọn họ đến liền cười, mời mọc: “Lỗ mũi thính thật đấy! Hai người biết Cận Tịch vừa nấu xong món cháo bột tủy bò nên sáng sớm tinh mơ đã chạy đến đây sao?”

My Trang lên tiếng trách móc: “Cả hoàng cung này chắc chỉ còn mỗi muội là thoải mái, vui vẻ được thôi. Bên ngoài đang náo loạn ầm ầm kia kìa!”

Tôi húp một ngụm cháo rồi cười tủm tỉm, hỏi lại: “Thế nào? Đến tỷ cũng có lúc không kiềm chế được nữa sao?”

Lăng Dung hỏi: “Đêm qua tỷ có nghe thấy tiếng ca không?”

Tôi tủm tỉm cười. “Đương nhiên có. Diệu Âm nương tử quả là danh bất hư truyền, giọng hát thực sự làm lay động lòng người.”

My Trang lẳng lặng không nói, hồi lâu sau mới thốt lên: “Ỷ sủng mà kiêu, nửa đêm hát lớn! Ả ta còn dám tự tiện hạ lệnh tống Sử Mỹ nhân từng ở cùng cung với muội vào Bạo thất nữa!”

Tôi cười nhạt. “Đó là chuyện tốt ấy chứ!”

“Chuyện tốt ư?” My Trang hơi cau mày, mặt Lăng Dung lộ vẻ nghi hoặc, chẳng hiểu gì.

“Ả ta bất ngờ được sủng ái đã khiến mọi người trong hậu cung bất mãn rồi, lại không biết giữ ý tứ, ỷ sủng mà kiêu, chẳng phải tự tìm đường chết hay sao? Tự tìm đường chết dù sao cũng tốt hơn là đợi đến ngày ả ta chèn ép, buộc tỷ phải đích thân ra tay, có phải không?” Tôi tiếp tục giải thích: “Ả không biết cẩn thận giữ gìn, tư chất như thế có thể coi là ngu xuẩn, loại người như thế sẽ không thể uy hiếp được địa vị của tỷ. Đại khái là tỷ có thể kê cao gối ngủ ngon rồi.” Tôi nhấc chung trà lên. “Chuyện vui như vậy có đáng để tỷ uống trọn chung trà này hay không?”

My Trang vẫn còn lo âu. “Tuy nói như vậy nhưng Hoàng thượng vẫn chưa lên tiếng trừng trị ả ta cơ mà! Huống gì ả còn thân thiết với Hoa Phi nữa.”

Tôi thản nhiên đáp: “Đó là chuyện sớm muộn mà thôi! Chuyện ngày hôm qua đã ảnh hưởng đến thể diện của đế hậu, làm rối loạn trật tự tôn ti trong hậu cung, dù Hoa Phi có muốn bảo vệ ả cũng không được. Huống chi Hoa Phi thông minh như vậy, sao chịu nhúng tay vào vũng nước đục này làm gì?”

Lăng Dung tiếp lời: “Chỉ e ả ta được sủng ái như vậy, Hoa Phi ngoài mặt tuy vẫn vui vẻ nhưng trong lòng cũng cảm thấy khó chịu khôn nguôi, sao có thể chịu ra tay giúp đỡ ả ta cơ chứ?” Nói xong, nàng ta bèn nhấc chén lên, cười nói: “Lăng Dung lấy trà thay rượu, uống cạn chén này trước vậy!”

Mặt My Trang dãn ra, cười nói: “Vậy thì tỷ cũng không từ chối thịnh tình của các muội!”

Quả nhiên, đến trưa, Hoàng đế hạ chỉ, thả Sử thị ra khỏi Bạo thất, đồng thời ban thưởng để an ủi. Ngoài ra, còn trách mắng Dư thị, buộc ả phải đóng cửa suy nghĩ lỗi lầm một tuần, tước bỏ phong hiệu Diệu Âm. Tuy ả ta vẫn còn là chính thất phẩm nương tử nhưng mất đi phong hiệu thì địa vị cũng chẳng được coi trọng như xưa nữa.

 

Advertisements

Chân Hoàn 7.1

Tôi giật mình tỉnh khỏi giấc mộng, trong lòng thấp thỏm không yên, cũng không để ý đến chuyện đêm đã khuya, lập tức sai Tinh Thanh ra Ỷ Mai viên xem bức tranh cắt giấy treo trên nhành mai còn ở đó không. Tinh Thanh thấy tôi sốt ruột, cũng chẳng dám hỏi lý do, lập tức khoác áo ấm, đi ra ngoài. Nhưng nàng ta vừa rời đi thì cả cung đều kinh động, tôi phải giải thích là vì mơ thấy ác mộng nên giật mình.

Hồi lâu sau, mà dường như tôi đã phải chờ đợi suốt cả đêm ròng, cuối cùng Tinh Thanh cũng quay về, báo cho tôi biết bức tranh cắt giấy của tôi đã không cánh mà bay, e là bị gió thổi mất rồi. Lòng tôi như bị giội một gáo nước lạnh, ngẩn ngơ hồi lâu. Đám Cận Tịch nghĩ tôi vì mất bức tranh cắt giấy ấy nên cảm thấy may mắn tuột khỏi tay, sinh ra buồn bực, không yên. Bọn họ liền an ủi hồi lâu, kể chuyện vui cho tôi giải sầu. Tôi cố lấy lại tinh thần, tự an ủi bản thân vài ba câu, có thể nó đã bị gió thổi bay mất thật, hoặc có cung nữ nào đó thấy bức hình tinh xảo nên đã lấy xuống chơi không biết chừng… Tuy nói như vậy nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy có chút bất an. Cũng may là tháng ngày vẫn trôi qua bình yên như mặt hồ không gợn sóng, chẳng thấy có sự cố gì ảnh hưởng đến Đường Lê cung của tôi. Tôi tiếp tục nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng trong cung, ngày mùng Một cả hậu cung tụ họp, tôi cũng được miễn không phải tham dự.

 

Một ngày nọ, sau khi dùng xong bữa trưa, tôi đang nằm nghỉ trong phòng sưởi thì My Trang vén rèm bước vào, cười nói: “Có chuyện kỳ lạ phải kể cho muội nghe chơi mới được!”

Tôi lười chẳng buồn ngồi dậy, chỉ mỉm cười hỏi tỷ ấy: “Trong cung lại có chuyện gì mới nữa đây?”

My Trang cười nhạt, kể: “Chẳng hiểu tại sao Hoàng thượng lại coi trọng một cung nữ trồng hoa họ Dư ở Ỷ Mai viên, vừa mới phong cho ả chức Canh y. Tuy là chức vị thấp nhất, chỉ là tòng bát phẩm nhưng so với thuở còn là cung nữ thì cũng đường hoàng là tiểu chủ rồi.”

Tôi xoay xoay lồng ấp trong lòng, nói: “Triều đại nào chẳng có chuyện Hoàng đế chấm trúng cung nữ nào đó rồi phong làm phi tần, Thuận Trần Thái phi chẳng phải…” My Trang lườm tôi một cái, tôi cười trêu tỷ ấy: “Xem bộ dạng cẩn trọng của tỷ kìa. Hiện giờ chỗ muội là nơi có thể nói chuyện thoải mái đấy!”

My Trang cúi đầu, vuốt ve hoa văn thêu trên váy, chậm rãi kể tiếp: “Bây giờ Hoàng thượng rất sủng ái nàng ta.”

“Nàng ta đẹp lắm sao?”

“Cũng thường thường thôi. Nhưng nghe nói nàng ta có giọng hát rất du dương.”

Tôi mỉm cười không nói, chiếc móng tay giả bằng bạc đính hạt trai nhỏ bằng hạt gạo đeo trên ngón tay út gõ leng keng lên lồng ấp, hồi lâu sau mới lên tiếng khuyên: “Chẳng qua Hoàng thượng tham luyến người mới thôi! Suy cho cùng, dẫu sủng ái nàng ta đến đâu thì theo quy định của tổ tiên, cung nữ để được thăng chức thành phi tần thì chỉ có thể tấn phong từng cấp, nhất thời không thể vượt qua tỷ được.”

My Trang cười chua chát. “Chuyện đó tỷ biết chứ! Chỉ là… trong lòng Lăng Dung bứt rứt không yên.”

Tôi lấy làm lạ. “Lăng Dung vẫn chưa được sủng ái hay sao?”

My Trang khẽ gật đầu, nói: “Vào cung lâu như vậy rồi mà Hoàng thượng vẫn chưa triệu muội ấy thị tẩm.” Nói xong, tỷ ấy khẽ thở dài. “Người khác được sủng ái thì cũng đành, đằng này lại là một cung nữ có thân phận ti tiện còn hơn muội ấy, trong lòng muội ấy đương nhiên không dễ chịu rồi.”

Tôi nhớ lại cảnh Lăng Dung đứng suốt đêm dưới gió sương trong đêm trước khi vào cung, tình ý của nàng ta đối với đại ca tôi… Chẳng lẽ nàng ta cũng giống tôi, cố ý tránh không nhận sủng ái của Hoàng thượng? Tôi chần chừ hỏi lại: “Chẳng lẽ bản thân Lăng Dung không muốn được thị tẩm?”

My Trang nghi hoặc hỏi lại: “Sao lại thế được? Tuy ngoài mặt muội ấy lộ vẻ thờ ơ nhưng đương nhiên vẫn khao khát được Hoàng thượng sủng ái chứ! Nếu không, với gia thế của mình, làm sao muội ấy có thể đứng vững trong cung?”

Tôi chần chừ giây lát rồi nói: “Tỷ nghĩ muội ấy có ý trung nhân không?”

My Trang bị câu hỏi của tôi làm cho giật mình, mặt đỏ ửng. “Không được ăn nói bậy bạ! Chúng ta đều là cung tần của thiên tử, thân và tâm đều thuộc về Hoàng thượng, sao có thể có ý trung nhân cơ chứ?”

Tôi nghe My Trang nói vậy, bất giác cũng đỏ mặt hổ thẹn, ấp úng bào chữa: “Muội cũng chỉ thuận miệng hỏi chơi một câu vậy thôi, tỷ làm gì mà căng thẳng quá thế?”

My Trang ngẫm nghĩ hồi lâu rồi lắc đầu, đáp: “Tỷ thực sự không biết nàng ta có ý trung nhân hay không. Ngày thường tuy hay gặp gỡ nhưng nàng ta không thân với tỷ bằng muội, quả thực không thấy có dấu hiệu gì đáng ngờ. Nhưng xem bộ dạng của nàng ta thì chắc hẳn nàng ta không có ý trung nhân đâu!” Sau đó tỷ ấy nói sang chuyện khác, tán gẫu vài ba câu rồi ra về.

Tiễn My Trang rời đi xong, thấy Bội Nhi bưng than vào thay, tôi giả vờ thuận miệng hỏi: “Nghe nói một cung nữ ở Ỷ Mai viên được phong làm Canh y phải không?”

Bội Nhi thưa: “Đúng vậy ạ! Ai cũng nói nàng ta gặp vận may, nghe nói đêm Giao thừa, nàng ta chỉ nói với Hoàng thượng đúng hai câu. Sáng sớm mùng Hai, Lý công công hầu cận bên cạnh Hoàng thượng đã sang đó tìm người, nàng ta đáp vài ba câu rồi được dẫn đi. Ai ngờ đi rồi không quay trở lại, lúc ấy mọi người mới biết Hoàng thượng ban ân, phong nàng ta làm Canh y.”

Tôi tủm tỉm cười, quả nhiên là cung nữ đó. Đúng là lanh lợi quá đi thôi! Nhưng cũng coi như giúp tôi tránh được một kiếp nạn. Xem ra trong cung trước giờ không bao giờ thiếu cá chép muốn vượt long môn hóa rồng. Trong lúc nói chuyện, Cận Tịch bước vào phòng, quỳ ghé xuống trước sạp bóp chân cho tôi, thấy Bội Nhi đổi xong than lui ra ngoài, trong buồng sưởi chỉ còn mình tôi và nàng ta, tôi mới khẽ cất giọng: “Đêm hôm ấy, tiểu chủ cũng ghé qua Ỷ Mai viên, không biết có gặp ai không?”

Tôi thò tay lấy một viên mứt hoa quả bỏ vào miệng, đáp: “Gặp hay không thì có gì quan trọng đâu cơ chứ?”

Cận Tịch ngẫm nghĩ một lát rồi mỉm cười, thưa: “Nô tỳ chỉ nghĩ bậy bạ mà thôi! Nhưng trong chốn cung cấm, chuyện vàng thau lẫn lộn, củi trộn với trầm cũng nhiều vô kể, nô tỳ sợ làm lợi cho kẻ khác.”

Tôi nhổ hạt của viên mứt vào ống nhổ đặt kế bên rồi trả lời: “Có đôi lúc, làm lợi cho kẻ khác cũng là làm lợi cho chính mình.”

Thêm một tháng nữa trôi qua, Lăng Dung vẫn chưa được Hoàng thượng sủng ái, còn Dư Canh y thông minh, lanh lợi, giỏi tài ca hát, sự sủng ái của Hoàng thượng dành cho nàng ta chẳng hề giảm xuống. Trong một tháng ngắn ngủi, nàng ta liên tục thăng lên hai cấp thành thái nữ, tuyển thị, sau đó lại được phong làm chính thất phẩm Diệu Âm nương tử, ban cho ở tại Hồng Nghê các. Nhất thời tiếng tăm nổi trội, đến Hoa Phi cũng đích thân ban thưởng lễ vật cho nàng ta. Dư Nương tử cũng rất giỏi tài nịnh nọt Hoa Phi, hai người vô cùng thân mật. Dư thị từ đó dần trở nên kênh kiệu, đến My Trang, Lưu Lương viện, Điềm Quý nhân, thị cũng chẳng để vào mắt, mở miệng ra là gây sự. My Trang dẫu giỏi kiềm chế đến đâu cũng không tránh khỏi có chút tức tối.

Tuy đã sang tháng Hai nhưng tiết trời vẫn chưa ấm lên, hai ngày gần đây trời mỗi lúc một lạnh. Trên bầu trời, mây đen rủ thấp, bầu trời u ám, xem tình hình này, rất có khả năng sẽ có thêm một trận tuyết lớn nữa. Quả nhiên đến tối, hoa tuyết vừa to vừa dày, một trận tuyết lớn đổ xuống đúng một ngày một đêm. Đến đêm hôm sau, bông tuyết dần nhỏ lại, Tiểu Doãn Tử và Tiểu Liên Tử quét dọn tuyết đọng ngoài vườn, lúc vào nhà thì toàn thân ướt nhẹp, lạnh cóng, run lẩy bẩy, miệng lầm bầm mắng chửi “thời tiết quỷ quái” rồi vội vàng lui xuống thay quần áo.

Tôi buông tấm khăn tay đang thêu dở xuống, lên tiếng: “Năm nay thời tiết xấu quá, ngày mùng Hai tháng Hai rồng ngẩng đầu rồi mà tuyết vẫn rơi. Sợ rằng đám hoa cỏ ngoài kia sẽ chết vì lạnh mất thôi!”

Lưu Chu mỉm cười, nói: “Tiểu thư đúng là thương hoa tiếc ngọc! Hồi cuối thu, đám tiểu nội giám đã quấn rơm rạ kĩ càng xung quanh rồi, có lạnh nữa cũng chẳng sao!” Tôi an tâm mỉm cười rồi cúi đầu, tiếp tục thêu mẫu chim hoàng oanh trên khăn tay.

Loáng thoáng nghe ngoài xa có tiếng xe lộc cộc, tôi không khỏi lấy làm lạ. Đường Lê cung khuất nơi hẻo lánh, trước giờ rất hiếm khi có xe ngựa qua lại, tại sao đã khuya như vậy mà vẫn còn tiếng xe? Ngẩng lên, tôi thấy Cận Tịch cung kính đứng hầu bên cạnh, nàng ta hạ giọng thưa: “Bẩm tiểu chủ, đó là tiếng xe Phượng Loan Xuân Ân.”

Tôi lẳng lặng không nói gì thêm, xe Phượng Loan Xuân Ân là xe dành riêng cho tần phi phụng chiếu thị tẩm đến tẩm cung của Hoàng đế.

Tập trung lắng nghe một hồi, tiếng xe càng lúc càng gần, trong đêm tuyết tĩnh mịch có thể nghe thấy tiếng leng keng vui tai của châu ngọc đính trên xe. Loáng thoáng còn có tiếng nữ nhi ca hát, giọng hát uyển chuyển, vang dội, đó là lời của một bài ca chúc tụng vừa được đặt ra trong cung: “Lò nóng đàn hương than lách tách, trân châu rèm quý tuyết tung bay. Sáu cung dâng rượu, vua Nghiêu thọ, phượng múa rồng bay chật ngự y.” Tôi lắng tai nghe hồi lâu rồi cất tiếng khen: “Hát hay thật, chẳng trách Hoàng thượng ban cho nàng ta phong hiệu Diệu Âm.”

Tiểu Doãn Tử cúi đầu, lí nhí nói: “Nửa đêm nửa hôm cao giọng hát hò ngoài vĩnh hạng thì thật chẳng hợp với quy củ trong cung!”

Chân Hoàn 6.3

Tiếng bước chân của người nọ mỗi lúc một gần, lờ mờ có thể nhìn thấy hoa văn giao long xuất hải trên chiếc ủng xanh lam, khi chỉ còn cách mấy lùm mai nữa là đến chỗ tôi thì tiếng bước chân dừng hẳn. Giọng của người đó lại vang lên, có phần nghiêm khắc: “Còn không lên tiếng, ta sẽ cho người xới tung cả Ỷ Mai viên này lên!”

Tôi đứng yên không dám động đậy, hai tay siết chặt, chỉ cảm thấy toàn thân lạnh buốt, cứng đờ, qua bóng hoa nhìn thấy một vạt áo màu xám bạc cách tôi không xa, bên trên thêu chi chít hình rồng uốn lượn, lòng tôi càng thêm khiếp hãi, bất giác quay đầu nhìn thấy có bóng cung nữ mặc y phục màu xanh thấp thoáng ở cửa sau vườn, nhanh trí đáp: “Nô tỳ là cung nữ của Ỷ Mai viên, ra ngoài cầu phúc, vô tình quấy nhiễu tôn giá, xin được thứ tội!”

Người nọ lại hỏi: “Ngươi có đọc sách à? Tên gọi là gì?”

Lòng tôi bất giác cảm thấy hoảng hốt, cố định thần lại, đáp: “Tên gọi của nô tỳ đê tiện, sợ làm bẩn tai tôn giá!”

Nghe người nọ lại bước tới gần mấy bước, tôi vội vã gọi với: “Ngài đừng qua đây… Giày vớ của nô tỳ bị ướt hết rồi, đang phải thay.”

Người nọ quả nhiên dừng bước, thật lâu sau không nghe thấy nói gì, đợi thêm lát nữa, nghe tiếng bước chân của ông ta chầm chậm bước sang hướng khác, rồi chẳng còn động tĩnh gì nữa. Lúc này tôi mới trấn tĩnh lại, trái tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, hoảng hốt cứ như đằng sau có người đuổi sát theo, tôi giẫm lên lối mòn đầy băng vụn, băng qua vĩnh hạng dài dằng dặc, chạy thẳng về Đường Lê cung.

Đám Cận Tịch, Hoán Bích thấy tôi hớt hơ hớt hải chạy vào, nhanh đến mức trâm thoa rời rạc, tóc mai rối bời, ai nấy đều kinh hãi đưa mắt nhìn nhau rồi rối rít hỏi thăm: “Tiểu chủ có chuyện gì vậy?”

Hoán Bích nhanh nhẹn rót trà dâng lên, tôi uống cạn một hơi rồi mới có sức trả lời: “Có hai con mèo nấp sau đống tuyết nằm bên vĩnh hạng, cũng không biết là của ai nữa, đột nhiên lao thẳng vào người ta, đúng là sợ phát khiếp.”

Lưu Chu tủm tỉm cười, trêu: “Tiểu thư từ nhỏ đã sợ mèo, một lúc gặp hai con, hẳn là bị kinh sợ một phen rồi!” Nàng ta lại cao giọng gọi: “Bội Nhi, nấu một bát canh gừng thật đặc bưng lên đây, để Quý nhân chống lạnh.” Bội Nhi vâng dạ làm ngay.

Cận Tịch an ủi tôi: “Nữ nhân trong cung trước giờ thích nuôi mèo, đám mèo ấy cũng ngang tàng lắm, tiểu chủ thân thể tôn quý, phải cẩn thận mới được!” Lại hỏi: “Tiểu chủ đã cầu nguyện xong chưa?”

Tôi gật đầu, kể: “Nguyện đến ba điều liền, chẳng biết thần phật có trách ta quá tham lam hay không nữa!”

Cận Tịch đoan chính hành đại lễ với tôi, cười tươi rói, chúc mừng: “Chúc mừng tiểu chủ! Thường nghe nói “mèo đem vận may”, tiểu chủ cầu nguyện xong liền gặp ngay hai con mèo, chẳng phải đó là điềm lành cho thấy ước nguyện của người nhất định sẽ thành sự thật đó sao?”

Tôi tủm tỉm cười. “Cái gì không tốt đến miệng các ngươi đều thành cực tốt! Nếu những ước nguyện của ta thực sự có thể trở thành sự thực thì ta bị đám mèo làm hoảng sợ coi như cũng đáng!” Nói xong, tôi gọi Tinh Thanh bưng chậu nước tới, giúp tôi quấn lại tóc, thay y phục rồi ngồi xuống đánh mã điếu.

Khi bình tĩnh trở lại, trong lòng tôi không khỏi cảm thấy hoài nghi. Hôm nay hậu cung tổ chức dạ yến, tuyệt không mời ngoại thần thân thích. Ngoài Hoàng thượng ra thì chẳng còn người đàn ông nào khác có thể ra vào hậu cung. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh đôi ủng xanh lam có thêu hoa văn giao long xuất hải… cùng vạt áo xám bạc thêu chìm hình rồng uốn lượn. Tôi sợ đến toát mồ hôi, hoa văn chìm hình rồng uốn lượn là loại hoa văn dành riêng cho bậc bề trên, những thân vương bình thường cũng không được tự tiện dùng, chẳng lẽ người trong Ỷ Mai viên là… Cũng may tôi đã nhanh chóng thoát thân, nếu không bao công sức náu mình kể từ khi vào cung đến giờ coi như đổ sông đổ bể. Cận Tịch và Tiểu Doãn Tử giỏi đoán ý qua lời nói và sắc mặt, thấy tôi có vẻ uể oải bèn cố ý thua liền vài ba ván cho tôi vui lòng. Tôi lấy cớ không được khỏe nên trở về phòng trước. Cận Tịch đi theo giúp tôi tháo đồ trang sức.

Tôi vờ thản nhiên hỏi chuyện nàng ta: “Đêm nay hậu cung tổ chức dạ yến, Hoàng thượng, Hoàng hậu có mời ai khác đến dự không?”

Cận Tịch thưa: “Theo lệ trước giờ thì mấy vị vương gia cũng đến dự.”

Tôi khẽ “à” một tiếng.

Mấy vị vương gia mà Cận Tịch nhắc đến là đại hoàng tử Kỳ Sơn vương Huyền Tuân, tam hoàng tử Nhữ Nam vương Huyền Tể, lục hoàng tử Thanh Hà vương Huyền Thanh và cửu hoàng tử Bình Dương vương Huyền Phần của tiên hoàng. Tiên hoàng có tổng cộng bảy trai, hai gái. Ngũ hoàng tử, thất hoàng tử và bát hoàng nữ mất sớm.

Hoàng đế Huyền Lăng đứng thứ tư, cùng với nhị hoàng nữ Chân Ninh trưởng công chúa đều là con ruột của đương kim Thái hậu.

Kỳ Sơn vương Huyền Tuân, mẹ đẻ là Nghi Phi, giờ là Khâm Nhân Thái phi. Người này tuy là con trưởng nhưng tính tình yếu hèn, tầm thường, không chí tiến thủ, chỉ muốn an phận làm thân vương để tận hưởng vinh hoa phú quý.

Tương Thành vương Huyền Tể là con của Ngọc Ách phu nhân. Ngọc Ách phu nhân là em gái út của Bắc Lăng hầu. Năm Long Khánh thứ mười, Bắc Lăng hầu mưu phản, Ngọc Ách phu nhân bị liên lụy, không được sủng ái, uất ức mà chết. Huyền Tể trời sinh thần lực hơn người, anh dũng thiện chiến nhưng tính tình quá ngay thẳng, không hợp ý tiên hoàng, đến khi tiên hoàng qua đời mới được phong làm Tương Thành vương, hiện giờ nam chinh bắc chiến, lập không ít quân công, rất được Huyền Lăng tin cậy.

Thanh Hà vương Huyền Thanh thông minh trí tuệ, lại nhờ vào mẫu phi là Thư Quý phi, từ nhỏ rất được Hoàng đế thương yêu, mấy lần có ý muốn lập làm thái tử. Chỉ có điều xuất thân của Thư Quý phi có nhiều điểm bị người đời chê trách, quần thần đồng loạt phản đối nên tiên hoàng đành phải thay đổi ý định. Sau khi tiên hoàng băng hà, Thư Quý phi tự xin xuất gia, Huyền Thanh liền được Lâm Phi trước giờ vẫn rất thân thiết với Thư Quý phi nuôi dạy khôn lớn. Lâm Phi chính là đương kim Thái hậu nên Huyền Thanh và Huyền Lăng thân thiết chẳng kém anh em ruột. Huyền Thanh tính tình lông bông, tinh thông lục nghệ nhưng đặc biệt không ưa việc triều chính, cả ngày lấy thi thư làm bạn, âm nhạc làm bè, tài thổi sáo nổi danh khắp kinh thành, được mọi người xưng tụng là “tự tại vương gia”.

Bình Dương vương Huyền Phần là con út của tiên hoàng, giờ mới tròn mười ba tuổi. Mẹ ruột là Ân Tần xuất thân hèn mọn, từng là một cung nữ chuyên may vá trong Tú viện, sau khi tiên hoàng qua đời, dù được tấn phong làm Thuận Trần Thái phi, nhưng Bình Dương vương từ nhỏ đã được mẹ của ngũ hoàng tử là Trang Hòa Thái phi nuôi dưỡng, chăm sóc.

Tôi lẳng lặng nghe Cẩn Tịch kể, trong lòng vẫn cảm thấy bất an, hình như quên mất một chuyện gì đó quan trọng mà không sao nhớ ra được, đành nhắm mắt ngủ. Mọi người cũng dần lui ra. Mơ màng ngủ đến nửa đêm, tôi đột nhiên giật bắn mình, ngồi bật dậy, hành động quá đột ngột khiến màn gấm tung bay, tôi đã nghĩ ra chuyện khiến mình cảm thấy không yên lòng rồi: bức tranh cắt giấy!

Chân Hoàn 6.2

“Thật sao?” Tôi cao hứng cười thành tiếng. “Cảnh đẹp như vậy không thể bỏ lỡ được!”

Cận Tịch cũng vui vẻ tiếp lời: “Vừa khéo Quý nhân có thể treo bức hình giấy của mình lên cành cây ngoài vườn để cầu phúc!”

Tôi không đồng ý. “Ngoài vườn ư? Cành khô trụi lá thì treo lên có gì hay cơ chứ! Chi bằng xem nơi nào có hoa mai nở, treo bức hình giấy lên.”

Tiểu Doãn Tử đáp ngay: “Hoa mai ở góc tây nam Thượng Lâm uyển nở đẹp lắm, cũng gần cung điện của chúng ta.”

Tôi hỏi lại: “Là mai trắng sao?”

Tiểu Doãn Tử thưa: “Là mai vàng, thơm lắm!”

Tôi hơi cau mày. “Mai vàng không đẹp lắm, mùi hương lại quá nồng như hơi rượu. Còn nơi nào khác không?”

Tiểu Doãn Tử dang tay ra hiệu. “Ỷ Mai viên ở góc đông nam Thượng Lâm uyển có trồng loại mai cánh đỏ nhị trắng như ngọc, nở hoa đỏ rực, nhìn xa như áng mây đỏ vậy, đẹp đến mức nhìn thôi cũng phải ngẩn ngơ, chỉ là cách đây hơi xa!”

Đêm tuyết trăng thanh, rọi xuống từng cụm mai trắng xóa, mùi hương thầm bảng lảng, cảnh đẹp đến nhường nào… Tôi sinh lòng thích thú, đứng dậy khoác chiếc áo choàng gấm màu trắng bạc thêu vân xanh biếc lót lông chim, đội thêm mũ trùm đầu, vừa đi vừa nói: “Vậy ta sẽ đến đó xem một chuyến!”

Tiểu Doãn Tử nghe thấy vậy thì sợ đến độ mặt tái nhợt, lập tức quỳ xuống, tự tát vào mặt mình hai cái, van vỉ: “Đều do nô tài lắm lời! Sức khỏe của tiểu chủ vẫn chưa khá lên, không chịu được lạnh đâu! Huống chi hôm trước, Hoa Phi đã ban lệnh, nói tiểu chủ bị bệnh theo mùa, không tiện ra ngoài đi lại, nếu chuyện này truyền đến tai Hoa Phi thì tội không nhỏ đâu!”

Tôi tủm tỉm cười, đáp: “Đang yên đang lành ngươi lại tự trách móc bản thân làm gì kia chứ? Bây giờ đêm hôm khuya khoắt, không người qua lại, các tần phi đều đi tham dự yến tiệc, ta cố ý mặc bộ y phục này, đi trong tuyết vừa ấm áp lại vừa không gây chú ý. Huống chi ta bệnh lâu như vậy, đi ra ngoài giải sầu một phen cũng có lợi chứ sao!” Tiểu Doãn Tử còn muốn khuyên thêm, tôi đã rảo bước đi nhanh ra ngoài cửa, quay đầu lại, cười, nói: “Ta ra ngoài một mình, không ai được phép đi theo! Ai dám to gan ngăn cản thì sẽ phạt kẻ đó đứng ngoài tuyết lạnh cả đêm!”

Vừa ra khỏi cửa Đường Lê cung, Cận Tịch và Lưu Chu đã hấp tấp đuổi theo kịp, nhún chân hành lễ rồi dặn dò: “Nô tỳ không dám khuyên Quý nhân ở lại, chỉ xin Quý nhân cầm theo chiếc đèn này để đề phòng tuyết đọng, khó đi lại.”

Tôi giơ tay đón lấy, là một chiếc đèn gió kiểu sừng dê, vừa nhẹ vừa sáng, lại không sợ bị gió tuyết thổi tắt, mỉm cười, khen: “Các ngươi thật chu đáo!”

Lưu Chu lại đặt một chiếc lồng ấp nhỏ vào lòng tôi. “Tiểu thư giữ lấy cho ấm tay!”

Tôi cười, mắng: “Chỉ có ngươi là phiền phức, sao không đem cả chăn gối luôn một thể?”

Lưu Chu xấu hổ, mặt ửng hồng nhưng vẫn cứng miệng nói: “Giờ tiểu thư càng lúc càng chán ghét nô tỳ rồi, cứ như thế mãi thì Lưu Chu sẽ trở thành Lưu Lệ mất!”

Tôi cười, mắng: “Lại nói bậy bạ, cưng chiều nhà ngươi đến mức ngươi chẳng biết quy củ là gì nữa rồi!”

Lưu Chu cũng cười, đáp: “Nô tỳ việc gì phải lo lắng đến quy củ này nọ cơ chứ, chỉ cần lo lắng đến sự an toàn của tiểu thư là đủ rồi!”

Cận Tịch nghe vậy cũng phá lên cười.

Tôi nói: “Thôi đem về đi! Ta đi một lát rồi về ngay, không đến nỗi bị rét cóng đâu!” Nói xong, quay người đi ngay.

Tuyết đọng trên vĩnh hạng[1] và đường lớn trong cung sớm đã được đám cung nhân quét dọn sạch sẽ, nhưng mặt đường đóng băng rất trơn, đi lại phải hết sức cẩn thận. Đêm khuya trời lạnh, các tần phi đều ở chính điện hoan hỉ dự yến cùng Hoàng đế, Hoàng hậu, cung nữ nội giám ở các nơi cũng rúc vào nhà trong, sợ lạnh không dám ló đầu ra ngoài. Thỉnh thoảng có ngự lâm thị vệ và nội giám canh đêm đi qua nhưng thanh thế cũng giảm hơn ngày thường rất nhiều, rất dễ lảng tránh. Đường đến Ỷ Mai viên có hơi xa, cũng may gió đêm không lớn lắm, tuy hơi lạnh vờn quanh nhưng trên người tôi, y phục dày ấm cũng đủ để chống chọi. Tôi đi bộ chừng gần nửa canh giờ thì đến nơi.

Chưa vào vườn nhưng từ xa đã ngửi thấy một mùi hương thơm ngát, vương vấn không thôi, phảng phất đủ để giữ chân lữ khách, càng lại gần mùi hương càng thấm sâu vào lòng người, ngây ngất tận đáy lòng. Tuyết đọng trong Ỷ Mai viên vẫn chưa có ai quét dọn, tuyết vừa dứt cơn, chưa đông cứng thành băng. Giày đi tuyết bằng da dê non thêu hoa đạp trên mặt tuyết, phát ra âm thanh kẽo kẹt, khẽ khàng. Trong vườn vô cùng yên tĩnh, chỉ nghe thấy tiếng bước chân giẫm lên tuyết. Cả vườn trồng toàn mai đỏ, rộ hương khoe sắc, dưới ánh sao trong trẻo, chúng như những giọt thủy ngân nhỏ xuống tí tách, càng giống như ráng mây rực rỡ, đỏ đến mức như sắp cháy bùng. Trên mỗi cánh hoa còn đọng lại vài vụn tuyết trắng, trong suốt, tinh khiết, phản chiếu nhị hoa như ngọc, cánh hoa như đá quý đỏ thẫm, tôn dáng cho nhau, càng thêm vẻ ngạo nghễ, thoát tục, không biết tuyết làm nền cho mai hay mai làm nền cho tuyết, tạo nên một cảnh tượng thần tiên: “Hương nhẹ thoảng thầm trăng mới chớm, nhành thưa bóng lộng giữa làn vơi.”

Tôi đứng xa hai bước, hương hoa mai thanh khiết tựa hồ muốn gột rửa giúp người ta trở nên trong sáng, trắng ngần. Tôi thích thú, bèn chọn một nhành mai rộ hoa nhất, treo bức tranh cắt giấy của mình lên đó rồi chẳng để ý đến băng tuyết đầy trên mặt đất, đặt đèn gió qua một bên, thành tâm quỳ xuống, thầm cầu nguyện:

Chân Hoàn tôi nguyện thứ nhất, mong cha mẹ khỏe mạnh, huynh muội bình an.

Nguyện thứ hai, mong có thể ở trong cung bình an cả đời, sống trọn kiếp tàn.

Nghĩ đến đây, tôi không khỏi thấy lòng sầu muộn, muốn thoát khỏi thị phi trong chốn cung cấm, lo bảo vệ thân mình thì đời này đành bệnh mãi không khỏi, tự vùi mình trong chốn thâm cung, nhưng đến chuyện khi hầu Huyền tông cũng không có để mà kể.

Nguyện thứ ba, “mong người lòng chỉ một, bạc đầu chẳng xa nhau” lại càng là mộng tưởng hão huyền, chẳng bao giờ đạt được. Nghĩ đến đây, dẫu tôi đã sớm ý thức thân mình đời này phải chôn vùi trong chốn thâm cung, vĩnh viễn không có tương lai nhưng trong lòng bất giác cảm thấy xót xa khôn tả, thở dài một tiếng, ngâm một câu thơ: “Gió đông như hiểu ý, xin đừng hại đến hoa.”

Tôi vừa dứt lời, khuất sau hàng mai đằng xa chợt có một giọng nam trầm ấm vang lên: “Ai đang ở đó?” Tôi giật mình kinh hãi, nơi này còn có người khác! Còn là đàn ông nữa chứ! Tôi lập tức im lặng, “phù” một tiếng thổi tắt đèn gió, lách mình ẩn sau một gốc mai. Người nọ dừng lại một thoáng rồi hỏi tiếp: “Là ai?”

Bốn bề yên tĩnh, chỉ nghe thấy tiếng gió lùa tuyết đọng trên cành mai rơi xuống đất lộp bộp, hồi lâu sau vẫn không có tiếng trả lời. Tôi quấn chặt tấm áo choàng. Ánh sao mờ ảo, mặt tuyết trắng tinh, bóng cành bóng nhánh đan xen trập trùng, tựa vô số chạc san hô quấn quýt, muốn phát hiện được tôi cũng chẳng dễ dàng gì. Tôi hít thở khẽ khàng, rón rén rời đi, cố lách mình đi ra phía ngoài, chỉ sợ giẫm phải chỗ tuyết đọng cao sẽ gây ra tiếng động.

 

[1] Vĩnh hạng: con đường nhỏ, hẹp và dài trong nội cung, còn dùng để chỉ nơi ở của phi tần trong cung.

 

Chân Hoàn 6.1

Thấm thoát tôi nhập cung đã được ba tháng trời. Gần sang năm mới, bầu không khí trong cung mỗi ngày một nhộn nhịp. Số tăng nhân đêm ngày tụng kinh cầu phúc ở điện Thông Minh càng lúc càng nhiều. Đến ngày Hai mươi lăm tháng Chạp, phần thưởng tết cũng được ban xuống. Tuy tôi chỉ là một Quý nhân nhỏ bé, bệnh tật, không được sủng ái nhưng phần thưởng cũng không ít, thêm vào tặng phẩm của My Trang, Lăng Dung và Thuần Thường tại, cũng đủ để đón năm mới sung túc rồi. Đường Lê cung tuy có phần vắng lặng nhưng bọn Cận Tịch trông cũng vui vẻ hơn hẳn, bận bịu quét dọn cung thất tinh tươm, treo đèn ngũ phúc cát tường, dán chữ phúc khắp nơi.

Tuyết lớn rơi dày suốt hai ngày liền, trời càng lúc càng lạnh giá. Tôi ủ tay trong lò ấp nóng hổi, đứng dưới cửa sổ ngắm tuyết lông ngỗng rơi lất phất đầy trời, trời đất một màu trắng xóa vô biên. Tinh Thanh bước qua mỉm cười, khuyên tôi: “Tiểu chủ đang nghĩ gì mà thất thần như vậy? Dưới cửa sổ có gió lạnh luồn vào, người cẩn thận không bị đau đầu đấy.”

Tôi cười, đáp: “Ta đang nghĩ cung chúng ta thứ gì cũng có đủ, chỉ thiếu vài gốc mai và vài gốc tùng bách. Đến mùa đông, ngoài vườn trống huơ trống hoác, chẳng có hoa cỏ, cây cối gì cả, chỉ có thể đứng ngắm tuyết mà thôi!”

Tinh Thanh phân trần: “Lúc trước, khi Sử Mỹ nhân còn ở đây, nàng ta rất ghét các loại hoa cỏ, ganh tỵ hoa đẹp hơn người. Vì vậy nàng ta không ưa hoa mai, nói mùa đông chỉ có mình nó nở rộ, còn người thì lạnh cóng đến mức chân tay co rúm, mũi đỏ ửng, càng thể hiện rõ người chẳng đẹp bằng hoa. Nàng ta còn chê mùi tùng bách không thơm, nằng nặc đòi nhổ bỏ số cây đã trồng trước đây.”

Tôi cười khúc khích. “Không ngờ Sở Mỹ nhân lại thú vị đến vậy!”

Cận Tịch bước qua lườm Tinh Thanh một cái, trách móc: “Càng ngày càng không chịu quản cái miệng của nhà ngươi! Nhớ cho kĩ, nô tài không được bàn luận sau lưng chủ tử!”

Tinh Thanh thè lưỡi biện hộ: “Nô tỳ chỉ dám nói trong cung này thôi, ra ngoài tuyệt không bao giờ nói bậy!”

Cận Tịch nghiêm túc cảnh cáo: “Ở cung của mình nói quen rồi, thế nào ra ngoài cũng lỡ miệng nói càn, khi không lại chuốc họa về cho tiểu chủ.”

Tôi mỉm cười hòa giải: “Năm hết Tết đến, đừng mắng nàng ta nặng nề quá!”, lại dặn dò Tinh Thanh: “Về sau phải nhớ kĩ lời cô cô dạy, không được quên đấy nhé!”

Cận Tịch đến bên tôi, khuyên: “Quý nhân chê cảnh sắc bên ngoài không có gì đặc sắc để ngắm, hay để bọn nô tỳ cắt hoa đính lên cửa sổ vậy!”

Tôi hứng thú ủng hộ: “Ta cũng biết cắt hoa, chúng ta cùng cắt hoa rồi dán lên cửa sổ, để tăng thêm phần hân hoan.”

Cận Tịch vui vẻ vâng dạ rồi chẳng mấy chốc đã mang tới một chồng giấy màu và một xấp giấy vàng, bạc. Nữ nhân trong cung ngày dài rỗi việc thường thích thêu thùa, cắt giấy để giết thời gian, cung nữ, thái giám đa số cũng am hiểu việc này. Vì thế, vừa nghe nói tôi muốn cắt hoa dán cửa sổ, mọi người đều vây quanh sập ấm, bắt đầu cắt giấy.

Hai canh giờ trôi qua, trên bàn xuất hiện thêm một chồng mẫu hoa đủ màu sắc sặc sỡ, nào là “hỷ thước đăng mai”, “nhị long hý châu”, “khổng tước khai bình”, “thiên nữ tán hoa”, “cát khánh hữu dư”, “hòa hợp nhị tiên”, “phúc lâm môn”, ngoài ra còn có hình đủ loại hoa cỏ như sen, lan, trúc, cúc, thủy tiên, mẫu đơn, tuế hàn tam hữu.

Tôi xem lần lượt mẫu cắt của từng người rồi cất tiếng khen: “Cận Tịch cắt khéo quá, thật không thẹn là bậc cô cô!”

Mặt Cận Tịch hơi ửng hồng, khiêm tốn thưa: “Sao bằng được mẫu “hòa hợp nhị tiên” do Quý nhân cắt, đúng là sinh động y như thật!”

Tôi cười xòa. “Trên đời này làm gì có “hòa hợp nhị tiên”, chẳng qua chỉ là tưởng tượng ra rồi cắt theo ý mình mà thôi! Nếu có thể cắt hình giống hệt như người thật thì mới gọi là tài chứ!”

Vừa dứt lời, Bội Nhi đã nhao nhao nói: “Tiểu Doãn Tử biết cắt hình giống hệt người thật đấy!”

Tiểu Doãn Tử lập tức quay đầu lườm nàng ta một cái. “Đừng nói nhăng nói cuội trước mặt tiểu chủ như thế, làm gì có chuyện đó!”

Bội Nhi không chịu thua, cãi: “Ban nãy chính mắt nô tỳ nhìn thấy Tiểu Doãn Tử cắt hình của tiểu chủ rồi giấu vào trong tay áo kia kìa!”

Tiểu Doãn Tử hổ thẹn, mặt đỏ bừng, nhỏ giọng ấp úng: “Nô tài không có ý bất kính với tiểu chủ đâu!”

Tôi cười hì hì. “Thế thì có đáng gì? Trước giờ ta không để ý đến những chuyện vặt đó. Ngươi cứ lấy ra cho mọi người xem đi!”

Tiểu Doãn Tử ngượng ngùng dâng bức hình cho tôi. Tôi nhìn qua rồi cười tủm tỉm, khen: “Quả nhiên là tinh xảo! Tiểu Doãn Tử, ngươi khéo tay thật đấy!”

Tiểu Doãn Tử thưa: “Đa tạ Quý nhân khen ngợi! Chỉ là nô tài vụng về, không cắt được hoa dung nguyệt mạo của Quý nhân.”

Tôi cười mắng: “Mồm miệng trơn như mỡ, chỉ giỏi nịnh cho ta vui lòng. Ngươi đã cắt hình ta quá xinh đẹp rồi, ta rất hài lòng!”

Lưu Chu cười tủm tỉm, hỏi: “Hắn đúng là tên nhóc lanh lợi như quỷ sứ ấy, sao lại có ý muốn cắt hình của Quý nhân vậy?”

Tiểu Doãn Tử nghiêm túc đáp: “Từ khi tiểu chủ nhờ Ôn thái y cứu mạng cho ca ca của nô tài, nô tài và ca ca vẫn luôn khắc ghi đại ơn, đại đức của tiểu chủ, do đó đặc biệt cắt hình của tiểu chủ, đem về thờ phụng, ngày ngày thắp hương, quỳ lạy.”

Tôi nghiêm mặt khuyên: “Ta hiểu tấm lòng của ngươi và ca ca ngươi nhưng làm như vậy thì không hợp với quy củ, để truyền ra ngoài không tốt chút nào, thôi cứ dán bức hình này trong cung của ta cũng được!”

Cận Tịch đứng dậy cười, đề nghị: “Trong cung có tập tục, đêm Ba mươi tháng Chạp, đem một vật nhỏ mà mình ưa thích treo lên cành cây để cầu năm mới được vạn sự như ý. Tiểu chủ đã thích bức tranh do Tiểu Doãn Tử cắt như vậy, hay là cứ treo nó lên cành cây để cầu phúc đi, như thế coi như cũng thưởng cho Tiểu Doãn Tử được nở mày nở mặt một phen.”

Tôi tủm tỉm cười, đáp: “Ý kiến này nghe hay đấy!” rồi lệnh cho Hoán Bích đi lấy phần thưởng, thưởng cho Cận Tịch và Tiểu Doãn Tử.

Đang lúc náo nhiệt thì có người vén rèm tiến vào thỉnh an, chính là Bảo Quyên, cung nữ hầu cận của Lăng Dung. Nàng ta ôm hai chậu thủy tiên, thưa: “Tuyển thị tiểu chủ đích thân trồng mấy bồn thủy tiên, hôm nay đã nở hoa, nên bảo nô tỳ đem đến tặng Hoàn Quý nhân.”

Tôi cười, tiếp nhận. “Khéo thật, bọn ta vừa cắt xong mẫu hoa thủy tiên bằng giấy thì tiểu chủ của các ngươi lại sai ngươi đưa thủy tiên đến đây. Có tặng cho bên Huệ Tần tiểu chủ hay không?”

Bảo Quyên đáp: “Tiểu chủ đã bảo Cúc Thanh đưa hai chậu qua bên đó rồi, còn tặng cho Thuần Thường tại một chậu nữa.”

Tôi gật đầu. “Quay về bẩm báo với tiểu chủ nhà ngươi là ta rất thích, rồi cầm theo hoa giấy ta cắt về cho tiểu chủ nhà ngươi dán chơi trên cửa sổ. Bên ngoài tuyết lớn, ngươi ở lại sưởi ấm người rồi hẵng đi, đừng để bị lạnh cóng.”

Bảo Quyên vâng dạ rồi lui xuống. Chẳng mấy chốc đã đến Ba mươi tháng Chạp. My Trang, Lăng Dung và Thuần Thường tại theo lệ được mời tham gia gia yến trong nội đình do Hoàng thượng và Hoàng hậu chủ trì, đương nhiên không thể ghé thăm tôi được. Tôi bệnh tật quấn thân, Hoàng hậu ra ơn cho phép tôi ở lại trong cung nghỉ ngơi, không cần đi dự yến tiệc. Một mình ăn xong bữa cơm tất niên, tôi cùng đám hạ nhân chờ đón giao thừa. Phẩm Nhi bưng nước nóng vào, cười hì hì, kể: “Tiểu chủ, tuyết bên ngoài tạnh hẳn rồi, còn thấy sao sáng đầy trời nữa, xem ra ngày mai trời quang mây tạnh.”