Cổ cầm 2.6

Dưới mặt trời giữa trưa, những con đường chỉ là những chấm đen và vạch trắng. Thẩm Phong đi lang thang, không biết mình đi đâu mà giọng sư phụ thì ám lấy chàng: “Đàn cổ cầm được Phục Hy tạo ra để phân biệt con người với thú vật. Khi luyện các điệu, quy tắc hít thở và làm chủ cảm xúc, con người vượt lên cao hơn các sinh vật đơn giản khác và đến gần với thánh nhân. Người làm đàn không phải là người thường. Chúng ta mang một nhiệm vụ được trời đất ủy thác.”

Thế rồi Hầu Cảnh, một tướng quân bị đày lên phương Bắc đã phản bội các hoàng đế nhà Lương, những người đã cho hắn lánh nạn. Khi hoàng đế băng hà vì đói trong tù và triều đình sụp đổ, những ngôi nhà thanh nhã bị thiêu rụi và những người biết chơi đàn cổ cầm đều biến mất trong khói lửa nội chiến.
Nếu con người không còn biết đến đàn cổ cầm nữa, Thẩm Phong thở dài, điều đó có nghĩa là họ sẽ trở về trạng thái nguyên thủy và sẽ trở lại thành động vật chém giết lẫn nhau sao? Chàng đang ngẫm nghĩ tới đó thì bị thúc mạnh vào lưng một cú. Chàng rùng mình quay lại.

– Tao có tai mắt khắp nơi… Khi mày vừa đặt chân vào thành tao đã biết và chờ mày ở Vượng Phong…

Chu Bảo thở hổn hển chùi trán bực tức:

– Mày làm gì ở đây? Sao không đến chỗ tụi tao?

Thẩm Phong ấp úng không biết bắt đầu giải thích thế nào. Chu Bảo nói tiếp:

– Các món ăn đã được gọi rồi. Tao nói mọi người bắt đầu ăn đi, còn tao đi tìm mày… Đừng có nói với tao là mày ăn rồi đấy!

Thẩm Phong trả lời chàng chưa ăn.

Chu Bảo kéo tay áo chàng đi.

– Được rồi, vậy đi với tao. Mình đi quán Đồng xanh! Hồi sáng tao thấy có bán cá hồi đó!

Thẹn từ mặt tới tai, Thẩm Phong nói chàng thích một bát xúp hơn.

Chu Bảo đoán:

– Hết tiền rồi hả? Tao mời mày! Đi. Tao cũng muốn nói với mày chuyện này nữa.

 

Hai mươi năm trước, triều nhà Lương gọi tòng quân mỗi gia đình hai thanh niên để mở rộng quân đội chống giặc man di phương Bắc, rất ít người trở về. Chu Bảo lớn lên ngoài đầu đường xó chợ như bao đứa trẻ mồ côi khác. Trộm cắp, tống tiền, chuyên gây gổ, chúng sống thành băng đảng và lui tới những kẻ bần cùng trong xã hội. Quán Đồng xanh là hang ổ của chúng.

Những năm đầu tiên, khi Thẩm Phong và sư phụ ở trong núi Bắc, khi họ vào thành, băng đảng ném đá vào họ ngay khi thấy họ từ xa. Chúng bao vây lấy Thẩm Phong ngay khi người thợ đàn già vào trong nhà Hoa rồi đấm đá chàng túi bụi. Thẩm Phong đánh trả dữ dội và không thèm xin ân huệ của bọn chúng. Sự dũng cảm của chàng làm thằng đầu đảng là Chu Bảo thích thú, rồi khi nó biết Thẩm Phong mồ côi, nó ra sức bảo vệ chàng.

Quán Đồng xanh là một cái lều dựng giữa bốn gốc cây. Vì giờ ăn đã qua nên quán vắng và chủ quán nằm nghỉ trưa trên sàn ở giữa phòng. Chu Bảo đá ông ta một cú vào mạng sườn.

– Dậy đi mày, thằng lưu manh già. Cho tụi tao ăn uống!

Người đàn ông lớn tuổi, tóc lem luốc đầy mỡ, nhảy xuống đất, mắt trợn trừng.

– Thằng cha tội nghiệp bị điếc, – Chu Bảo giải thích.

– Chúng tao muốn ăn cá hồi mập và nướng cho ngon! – Nó hét lên.

Tay nó huơ huơ trong không khí vẽ một con cá rồi làm động tác nướng cá.

Người chủ quán gật đầu rồi đi vào trong bếp sau bức rèm.

Chu Bảo dẫn Thẩm Phong qua một cái bàn thấp. Nó nhìn con đường, người qua kẻ lại rồi vuốt vuốt cái cằm lún phún râu thì thầm:

– Mày có nghĩ tới lúc giàu lên không, Thẩm Phong?

– Không.

– Mày chưa bao giờ nghĩ sẽ làm gì với hai rương đầy bạc sao?

– Chưa bao giờ.

– Mày có tưởng tượng một ngày nọ mày không còn đi chân đất nữa, mà là đi ngựa, không còn ngủ trên rơm thối hoắc nữa mà trên một tấm chiếu thơm tho, lót bông dày êm ái không? Mày có từng mơ có một túi tiền luôn căng hơn sau mỗi bữa ăn thịnh soạn?

– Không.

Chu Bảo liếc nhìn chàng.

– Tại sao?

Chàng thợ đàn trẻ tuổi trả lời:

– Những người sinh ra bần hàn như mày và tao sẽ không bao giờ giàu. Chẳng cần phải mơ mộng làm gì. Nếu người ta ham làm giàu, người ta sẽ phải khổ đau nhiều hơn là nghèo. Nếu người ta không nghĩ tới việc làm giàu, người ta sẽ không nghĩ là người ta nghèo.

– Vứt mấy cái triết lý dở hơi khốn kiếp đó đi!

Chu Bảo vặn mình.

– Tao sẽ cho mày thấy mày gàn dở!

Advertisements

Cổ cầm 2.5

Lỗ Tứ ngừng lại, một nụ cười cay đắng hiện trên khuôn mặt ông ta.

– Đàn cổ cầm là cội nguồn của âm nhạc, là niềm khoái lạc của đại trượng phu. Những năm trước, ta đi với khách hàng cả chục bận để bán từng cây đàn một, ta ngồi với họ, bàn luận, giải thích, hướng dẫn họ hiểu cái bí mật của loài phượng hoàng bằng cách cho họ những bài học cụ thể. Không có kẻ nào làm khác được tất cả những điều đó. Nếu như có, ta đã không có tiếng tăm như bây giờ. Giờ ta phải lo thuận theo thiên triều, nếu không, ta sẽ bị mất cái đầu đang nằm trên cổ này. Hãy đến gặp ta sau mười hai con trăng nữa. Có thể từ giờ tới lúc đó ta có một lời đặt hàng cho cậu chăng.

Thẩm Phong sững sờ cầm lấy món tiền ông ta đưa cho mình mà không nói lời nào. Lỗ Tứ là một nhà buôn tử tế. Nhưng vào thời điểm này, Thẩm Phong muốn nghe ông ta nói dối hơn là nói sự thật. Chàng vừa lui ra vừa nhìn cây đàn Sóng cuộn lần cuối cùng. Trên chiếc bàn thấp, hình dáng thanh mảnh của nó lóe sáng. Nó có dáng thanh thoát và vẻ bình thản vững vàng. Chàng đã mất hai năm để xử lý gỗ, rồi thêm sáu tháng để đục đẽo thân đàn. Chàng đã nâng niu nó, vuốt ve nó, đánh sơn cho nó. Chàng đã cho nó một hình hài và mang cho sự im lặng của nó một tiếng nói. Nó cũng có những đòi hỏi của mình, nó bắt chàng phải trau chuốt từng đường nét và bo gọn những đường cong. Âm thanh của nó thay đổi dần, nó trốn chàng, hờn dỗi chàng, làm chàng bất ngờ. Nhưng thái độ của nó lúc nào cũng đúng mực. Nó đã dẫn chàng ngày này sang ngày khác vào bên trong trái tim nó, nơi nó hé mở cho chàng xem từng thớ từng vân gỗ cùng tất cả những gì hoàn hảo và chưa hoàn hảo trong âm thanh của nó. Mùi thơm của nó thay đổi. Nó lần lượt có mùi gỗ, mùi các dụng cụ, mùi keo, mùi sơn, mùi mồ hôi, mùi từng cơn mưa… cho đến tận khi nó thức dậy trong mùi thơm của cuộc sống. Đó là lúc nó và chàng phải xa nhau.

Thẩm Phong cúi lạy rồi nhấc gối cáo lui. Lỗ Tứ khẽ gật đầu chào chàng. Nhà buôn nhạc cụ không biết rằng cái lạy chào tôn kính đó của chàng là dành cho cây đàn Sóng cuộn mà chàng phải chia tay vĩnh viễn. Thẩm Phong đứng dậy rồi đi xuống cầu thang. Con khỉ nắm lấy bụng chàng làm chàng nhăn mặt vì đau. Chàng hít thật sâu, đi ngang qua sân rồi đi như chạy ra đường.

Chàng nhìn trời. Mặt trời đang đúng Ngọ. Theo thói quen, khi vào thành và bán được cây đàn cho Lỗ Tứ, chàng sẽ gặp Chu Bảo và nhóm bạn ở quán Vượng Phong. Chàng nhảy múa, gọi bò nấu tiêu và uống rượu với họ. Lúc tính tiền, nhóm của Chu Bảo sẽ không bao giờ trả tiền. Thẩm Phong hoan hỉ ném tiền của mình lên bàn. Những đồng tiền bằng đồng nảy lên, chạy vòng vòng, kêu leng keng: chúng chơi bản nhạc của thế giới vật chất.

Thẩm Phong đi ra giữa đường, tay siết túi bạc. Tiền kiếm được không đủ để sư phụ và chàng sống qua mười hai con trăng để quay lại nếu chàng ghé quán Vượng Phong. Chàng đặt túi bạc trong một nếp gấp trong đai quần. Bụng chàng cồn cào nhưng cổ họng nghẹn ngào đến mức chàng không muốn ăn uống gì. Chàng nhớ tới một quầy xe kéo bán một đồng ba chén rượu. Chàng đi tìm chiếc xe đó.

Nếu Lỗ Tứ không có thời gian để tìm khách bán cây đàn cổ cầm, chàng sẽ phải tìm một nhà buôn khác. Ở phía đông, có một dãy những cửa hiệu san sát nhau dựa lưng vào thành. Đó là cửa tiệm của những gia đình làm nhạc cụ, cho thuê và bán, đồng thời cung cấp các nhóm nhạc công cho đám cưới và đám ma. Dù Thẩm Phong đã cố gắng thuyết phục nhưng họ không quan tâm đến đàn cổ cầm. Ai lại muốn mua một nhạc cụ chỉ để chơi và cảm thụ một mình, giai điệu chậm chạp và âm thanh buồn tủi không ăn nhập gì với không khí của lễ tiệc kia chứ? Tìm những thi nhân và gõ cửa nhà họ ư? Thẩm Phong không phải là kẻ lắm mồm. Chàng không thể gần gũi với những người lạ mặt rồi trở thành bạn của họ chỉ sau một chén rượu được. Tìm ra một góc chợ, trải chiếu xuống đất và bán đàn như người ta bán rau, bán thịt ư? Đó sẽ là điều tồi tệ nhất với một người thợ đàn.

Tuy nhiên, danh dự không nuôi sống được cái miệng và chàng phải tìm ra cách để mang tiền về làng.

Chàng thấy sư phụ đang mang một cây đàn trên lưng, tất tả đi phía trước. Vốn là một đứa trẻ gầy gò, chàng phải chạy và nhảy để theo kịp ông. Vào lúc đó, triều nhà Lương vẫn chưa bị lật đổ, chưa bị nhà Trần thay thế. Sư phụ và chàng sống ở kinh đô Kiến Khang. Mặc quần là áo lượt, họ có thể đi băng qua những bức tường bao quanh khu phố của các tổng đốc và thư lại triều đình. Họ đến chầu trước cổng sơn son thếp bạc có lính tráng canh gác. Những nô lệ ra gặp họ, dẫn họ vào trong và mời lên những bậc thang, nơi họ có thể ngồi trước cửa vào và chào những vị đại nhân từ xa. Sư phụ chàng rút cây đàn cổ cầm ra khỏi bao, chơi một bản và đưa cây đàn cho viên quản gia mang vào phòng tiếp khách. Sau một hồi im lặng, tới lượt các đại nhân và phu nhân gảy đàn.

Ở thành Kiến Khang, sau khi bán được đàn, sư phụ chàng đi tới nhà Hoa, lên lầu với một bé gái để dạy nó đàn và chỉ xuống lầu lúc đêm xuống. Để trả công Thẩm Phong chờ ở cửa, ông dẫn chàng tới quán ăn, gọi một đĩa thịnh soạn và giục chàng uống rượu. Thẩm Phong đã quen với rượu từ nhỏ như vậy. Mỗi lần dạy học cho cô bé kia xong, sư phụ hết sức vui vẻ. Những nếp nhăn trên khuôn mặt ông bị xóa đi, còn hai gò má thì đỏ hồng. Ông kể hết chuyện này đến chuyện khác để làm Thẩm Phong vui trong khi chàng thì ngáp lên ngáp xuống:

“Ngày xưa có đức Phục Hy. Vừa sinh ra đã lớn nhanh như thổi rồi một ngày nọ trở thành khổng lồ với đầu người và thân rồng. Ông nhận ra xung quanh mình, người ta toàn ăn vận da thú và uống máu để sống. Ông dạy họ kiếm lửa và không ăn thịt sống nữa. Bắt chước cái mạng nhện, ông làm thành lưới để bắt cá. Quan sát các vì sao và thưởng ngoạn mặt đất, ông vẽ ra bát quái để thiên hạ có thể mô tả công việc hằng ngày và mô tả thời gian trôi. Một ngày nọ, đang đi dạo trong núi, Phục Hy thấy mây ngũ sắc trên trời bay xuống. Nheo mắt lại, ông thấy giữa ánh sáng chói lòa hai con chim khổng lồ đuôi dài lấp lánh bay ra. Ông nhận ra đó là hai con phượng hoàng. Cặp đôi đậu lên cành cây rồi ngay lập tức tất cả các loài chim khác bay từ nhiều vùng khác nhau đến hót vang. Khi cặp phượng hoàng bay đi, Phục Hy đốn gục cái cây mà lúc nãy cặp chim đậu, chọn một khúc gỗ có tiếng không quá trầm, cũng không quá bổng, ngâm khúc gỗ bảy mươi hai ngày dưới sông, sau đó phơi khô và biến nó thành một nhạc cụ phát ra đúng tiếng con chim phượng hoàng. Ông nghe tiếng gió từ tám hướng và tạo ra tám nốt trong nhạc lý. Ông gọi mọi người đến và nói: “Ta đã đục đẽo khúc gỗ này và biến nó thành một cây đàn cổ cầm. Đàn dài ba xích, sáu thốn, năm phân[1], ứng với ba trăm sáu mươi lăm ngày trong năm, rộng sáu thốn[2] tượng trưng cho Trời, Đất, Nam, Bắc, Đông, Tây, sáu góc của thiên hạ. Mặt đàn tròn như vòm trời, còn đáy phẳng như mặt đất. Phần bên trái rộng tượng trưng cho Hồ, phần bên phải hẹp tượng trưng cho Suối. Hồ rộng tám thốn, vì nó chứa tám ngọn gió trong trời đất. Suối dài bốn thốn, vì nó ứng với bốn mùa…” Con thấy không, Thẩm Phong, cây đàn cổ cầm không phải là một nhạc cụ. Nó là vật báu của trời đất…”


[1]. 1,28 m.

 

[2]. 21,48 cm.

 

Cổ cầm 2.4

Tiệm Lỗ Tứ nép mình bên tháp chuông. Ở cửa ra vào, một con khỉ ngồi bắt chấy cho một con chó. Bên dưới lồng chim, một con mèo nâu duỗi người, kêu meo meo, xù lông khi Thẩm Phong đi ngang qua nó.

Lỗ Tứ là thương nhân bán nhạc cụ, gốc gác thuộc một bộ tộc phương Nam. Tổ tiên của ông ta không phải quý tộc gốc nhưng họ đã thành quý tộc khi làm quân sư ở sân Rồng nhà Đông Ngô thời Tam Quốc. Khi Tào Ngụy thâu tóm Đông Ngô sau tám mươi năm liên miên chiến tranh, gia đình Lỗ Tứ mất hết gia sản nhưng chuyện dòng họ này ai ai cũng biết. Từ đó, dòng họ Lỗ Tứ không còn nắm quyền hành nữa. Tuy nhiên, họ vẫn giữ mối quan hệ giao hảo với những quan lại mới, nhờ vào tiếng thơm của dòng họ mình.

Là người hoạt bát và nhiệt tình, ông ta có thể kể lại chuyện đời xưa của tất cả các triều đình đã đóng đô ở bờ Nam sông Dương Tử. Tài năng diễn thuyết của ông ta và kiến thức lịch sử về bờ Nam nuôi sống ông ta. Để bán được các nhạc cụ, ông ta tới nhà khách hàng, làm các cuộc tiệc tùng sôi nổi hẳn lên nhờ vào những lời đối đáp khôn khéo của mình. Ông ta kể hết những âm mưu của các hoàng thân đến những cuộc liên minh và chia rẽ giữa các quan lại thời chiến. Phe phẩy cây chổi phủi bụi bằng lông cứng, ông ta có thể mô tả những âm mưu, những phi vụ trong cấm cung và sự leo thang quân sự. Câu chuyện hay nhất của ông ta là về trận thủy chiến Xích Bích mà tổ tiên ông ta đã tham chiến. Mua nhạc cụ của Lỗ Tứ, tức là có được những linh hồn, những vương quốc đã mất. Thẩm Phong lên cầu thang. Những cánh cửa trượt mở rộng và cửa nhỏ bằng vải màu đã vén lên. Bên trong, trên một tấm sàn bằng gỗ đỏ, một vài nhạc cụ đặt trên những chiếc bàn thấp có chân được uốn cong mảnh khảnh. Một chiếc bình cao cắm một bông lan vàng trước một bức tranh phong cảnh.

Thẩm Phong đánh nhẹ chuông rồi ngồi bên bậc thềm. Dù Lỗ Tứ không có gốc gác là người thượng lưu ở Trung Nguyên và ông ta là con cái một người vô danh tiểu tốt được nhận làm quý tộc nhưng ông ta rất tự hào về thứ bậc được đức vua của vương quốc hiếu chiến Đông Ngô phong cho và rất ghét bị những kẻ bình dân xem như ngang hàng. Ông ta luôn bắt những người thợ đàn phải chờ ở cửa.
Ở cuối phòng, một vách tường nhúc nhích và một bóng người cao cao dần hiện ra. Để thể hiện sự quý phái của mình, khuôn mặt Lỗ Tứ được đánh phấn trắng và đôi mắt viền đen. Bận một chiếc áo dày có tay áo rộng, ông ta di chuyển như đang bay. Ông ta cầm một cái que bằng ngọc thạch trắng đính lông chim cứng. Đó là cái chổi phủi bụi, vật đi liền với giới quý tộc.

Thẩm Phong vái chào.

Giọng trầm trầm của Lỗ Tứ vang lên:

– Đứng dậy đi, Thẩm Phong. Đàn của cậu đâu?

Chàng đặt nó ở lối vào phòng rồi lui lại ngồi trên bệ cửa.

– Tên gì?

– “Sóng cuộn”.

Lỗ Tứ cầm lấy nhạc cụ rồi đặt nó lên chiếc bàn thấp. Ông ta lấy nó ra khỏi bọc rồi lên dây. Một thứ âm nhạc chầm chậm và duyên dáng cất lên.

– Âm thanh mềm và âm vang khá tinh tế. Nốt cao chìm trong nốt trầm như bóng con chim mòng trắng lướt đi trên sóng nâu. Đẹp. Rất đẹp… Nhưng…

Giọng Lỗ Tứ xoay vòng trong không khí. Gảy một dây đàn, ông ta thở dài, nói như đang ngâm thơ:

– Bên bờ Bắc dòng Dương Tử, ở nước Chu, con gái Dương Kiên, một tướng quân gốc Hán, phải làm hậu cho các tộc man di. Ông ta đã thay đổi di chúc của hoàng thượng lúc băng hà và tự xưng là nhiếp chính sau khi đã đưa cháu trai mình lên ngôi. Năm hoàng tử, anh em của đức vua băng hà, gây chiến chống Dương Kiên để trục xuất ông ta khỏi triều đình. Nhưng Dương Kiên được sự hỗ trợ của vợ là con gái một tướng lĩnh của tộc người Độc Cô nổi tiếng gốc man di, há chẳng phải ông ta gây ra cuộc chiến một chống năm này để thống trị toàn bộ vương triều nhà Chu đó sao? Nếu năm hoàng tử thắng, họ sẽ tước ngôi của cháu trai Dương Kiên, và một trong năm sẽ được thay thế trở thành hoàng đế. Dương Kiên, một mưu lược gia tài ba và một chiến binh hung tàn đã cao cờ nhìn năm hoàng tử huynh đệ tương tàn. Ông ta vừa đấu với họ vừa để họ tiêu diệt lẫn nhau. Cuối cùng Dương Kiên thắng cuộc, soán ngôi cháu trai và lập ra nhà Tùy. Khi đã là quân vương, ông ta nuôi mộng đánh chiếm miền Nam để thống nhất Trung Hoa. Ta, Lỗ Tứ, tổ tiên của ta đã uống nước dòng Dương Tử này trước khi người Hán đến, ta phải bảo vệ phương Nam độc lập. Ta sẽ không đi về phương Bắc để bán nhạc cụ nữa, ở đó trộm cướp đang hoành hành…

Lỗ Tứ đứng dậy, đi qua phòng tiếp khách, biến mất sau bức tường tranh rồi trở lại.

– Ở phương Nam, nhà Trần đang suy yếu. Hoàng đế của chúng ta chểnh mảng việc nước mà say đắm trong những trò nhục dục thể xác. Ông ta soạn nhạc để chuộc lỗi với đám tỳ thiếp. Ông ta cho họ vào một dàn nhạc mà ông ta điều khiển để họ học tình bằng hữu và sự hòa hợp. Con trăng vừa rồi, dàn nhạc gồm hàng nghìn kiều nữ đã hát một bài ca do ông ta soạn. Họ vừa mới đặt ta thêm hai trăm cây tỳ bà, ba trăm cây sáo, năm trăm trống con và năm trăm trống cái. Cung điện không còn quan tâm đến đàn cổ cầm đơn tấu. Cậu phải đổi nghề thôi. Ta cần nhiều thợ làm tỳ bà. Cầm lấy, Thẩm Phong, cầm lấy khoản tiền này. Ta biết rằng nếu ta từ chối mua đàn của cậu, ông lão sư phụ và cậu sẽ không có gì để ăn, rồi xương cốt của sư phụ cậu sẽ không sống nổi. Nhưng hãy nhớ rằng, ta không có thời gian để tìm người bán cây đàn của cậu đâu.

Cổ cầm 2.3

Lưu Bé Bự ngừng lại, đằng hắng rồi vừa phủi phủi tay vừa nói tiếp:

– “Đàn du mục”! Cây đàn nào cùng tên, ta sẽ bán ba trăm lượng vàng! Nói xem, ta phải để dành một phần tư số tiền kiếm được cho kẻ môi giới, rồi ta đưa cậu một phần tư trong khoản còn lại, cậu sẽ có nhiều tiền vàng lắm đó. Lấy đó mà mua một ngôi nhà trong thành cho cậu và sư phụ của cậu, hầu gái và nô bộc sẽ vây quanh cậu, rồi cậu sẽ có một đám cưới đẹp như mơ.

Thẩm Phong ngập ngừng một thoáng rồi trả cuốn sách lại cho tay buôn đồ cổ.

– Tôi không thể. Sư phụ và tôi không phải là kẻ làm đồ giả. Chúng tôi không giữ được thanh danh nếu làm như vậy.

Một nụ cười nhếch mép hiện trên khuôn mặt của tay buôn đồ cổ nhưng y vẫn tiếp tục cười nói.

– Giữ cuốn sách đi. Cậu làm vậy khác gì sỉ nhục ta! Thậm chí, nếu cậu không làm cây đàn cho ta, thì hãy cứ giữ món quà này! Vì âm nhạc.

Tới cửa, y đưa tay phải lên che miệng rồi thì thầm:

– Đừng nói với ai nhé! Bí mật đấy. Đi đi, về nhanh lên. Đừng có ngớ ngẩn. Cậu đang ở tuổi lập thất. Sư phụ cậu sẽ rất vui nếu có cháu chắt đó!

Hai cô hầu trẻ cúi người nâng rèm cửa, tươi cười:

– Kính chào đại nhân!

Thẩm Phong đi xuống đường, Lưu Bé Bự đi theo.

– Bí mật là ở chỗ: Cổ nhân đã không ghi chú trong kinh thư nhà Hán hình dáng và những điểm đặc biệt của những cây đàn thuộc về nàng Sái Văn Cơ. Tùy cậu đấy…

Thẩm Phong đi giữa đường, giữa những tiếng ồn ào. Chàng sờ ngực mình. Cuốn sách nhạc vẫn ở đó, dính chặt vào ngực chàng. Như thể nó đánh thức chàng ra khỏi một giấc mơ hỗn loạn và không màu sắc; một cảm giác lạ lùng, sung sướng lẫn buồn bã, ghê tởm lẫn hy vọng choàng lấy chàng.

 

Những giọng nói lảo đảo, tung vào nhau, văng tục và đáp trả nhau. Những con buôn nay đây mai đó hết lời ca ngợi điều kỳ diệu ở những nồi niêu, xoong chảo, hũ lọ, vải vóc, đồ ăn thức uống, rồi thổi cả ống sáo để gây sự chú ý của khách. Những người bán hàng thuê những đứa trẻ con giọng còn thanh để chèo kéo người qua đường. Các nhà sư hành hương đi ngang qua thành thì gõ gõ chuông đồng. Ở một góc ngã tư, người làm xiếc nhào lộn theo nhịp trống hoặc đấu kiếm với nhau trong khi những đứa trẻ đánh cồng bằng đồng và xướng to công dụng của các loại thảo dược làm người chết bỗng sống lại và làm kẻ bất lực bỗng trở nên mạnh mẽ trên giường. Tất cả những âm thanh đó nhét đầy tai chàng. Như những trái chín bị một bàn tay vô hình vò nát, những âm thanh đó biến thành một ngụm rượu nhỏ thơm nồng.

Thẩm Phong không quen cô gái nào cả. Ở vùng núi Bắc, trong làng, phụ nữ giống hệt đàn ông. Họ còn mạnh khỏe hơn đàn ông, ngày ngày địu con trên lưng đi làm ruộng. Họ cắt tiết thỏ rừng và vặt lông gà lôi trước cửa nhà giữa một vũng máu tươi. Khi gặp mâu thuẫn với hàng xóm, họ phỉ báng nhau rồi ẩu đả. Khi đàn ông bị ngã xuống vực hay bị hổ báo tấn công, cũng chính họ sẽ cầm lấy cung tên và rìu. Những góa phụ có thể đi săn, đẽo gỗ, đi vào thành bán rau quả và thịt thú rừng săn được.

Cậu bé chơi với lũ con gái trong làng, thi xem ai tè xa nhất. Điểm khác biệt duy nhất là con trai có thể vẽ trên tường còn con gái chỉ được vẽ dưới đất. Từ mùa xuân đến những ngày cuối thu, cả làng giặt giũ và tắm táp dưới thác nước lớn. Những phụ nữ trần truồng mang hai bầu vú trước ngực, còn đàn ông có tới ba, nằm giữa hai chân.

Gần đây, chàng thợ đàn cảm thấy có chút buồn rầu vì một cảm giác lạ làm chàng bồn chồn mỗi khi chàng ở quá lâu trong làng dưới sự trông coi của sư phụ già nua. Ngay khi có thể là chàng nhảy vào thành, lòng tràn ngập niềm vui. Khi đã ở trong phố, bơi giữa đám người thành thị, chàng nhận ra rằng, sự phấn khích và chen lấn không thể nào cầm được cơn khát của chàng. ngược lại, chúng còn làm chàng thèm khát hơn trong sự chờ đợi một cái gì không thể gọi tên và chưa từng biết.

Gió thổi vào mũi chàng một mùi hương dìu dịu. Đó không phải là mùi phấn hoa, cũng không phải mùi trái chín. Chàng nhìn quanh và phát hiện thấy một người xuất hiện. Nàng cưỡi lừa và có hai con hầu nhỏ mang đồ đạc theo hộ tống. Khoác áo gấm thêu hình bướm và mặc áo vải màu thiên thanh, nàng đội trên đầu một cái nón rơm thật lớn. Một tấm khăn voan dài bằng vải trong và mịn màu trắng che khuôn mặt nàng để làm mờ các nét trên khuôn mặt. Khi nàng đi ngang qua ánh nắng, khuôn mặt nàng chợt sáng bừng lên, để lộ cái mũi thon, cái miệng tròn trĩnh, cái cổ cao duyên dáng nghiêng về phía trước.

Chàng thợ đàn trẻ tuổi nhìn theo nàng không chớp mắt. Nàng nhúc nhích một chút trên lưng lừa. Nhanh như cắt nàng nhảy lên, nhảy xuống. Theo từng chuyển động nhịp nhàng của cơ thể, hai tay áo của nàng rung rung để lộ ra nhiều lớp áo bên trong, dưới lớp áo khoác ngoài. Thẩm Phong bước vội, vượt qua nàng, rồi quay lại để nhìn được rõ hơn. Nàng đi vào chỗ có bóng râm. Khuôn mặt nàng biến mất sau những nếp nhăn của tấm khăn voan. Nhưng chàng có cảm giác sau tấm voan trắng mờ, nàng đang nhìn chàng sâu thẳm và thì thầm với chàng: “Phụ nữ.”

Phụ nữ!

Chàng đỏ mặt quay đi và hòa lẫn vào đám đông. Thấp thoáng sau rừng những bờ vai và mũ nón, chàng thấy nàng đi xa. Nàng cũng đi vào giữa con đường. Trong ánh nắng, bóng nàng như phồng lên rồi biến mất trong một thế giới không bao giờ có thể tới gần được.

Đó là một kiều khách đang đến một buổi dạ tiệc.

Cổ cầm 2.2

Chàng không nghĩ gì và cũng không bàn tán gì. Thiên hạ lầm than cũng như đôi giày cũ kĩ làm từ lông cừu mà chàng đi ngoài đường sá, cũng chẳng khác gì tình trạng của chàng. Chàng định đi nhưng tay buôn đồ cổ giữ chàng lại:

– Trước khi đi, hãy nghe ta nói. Sư phụ cậu già rồi. Kệ lão ấy nếu lão chẳng nghe ta nói. Còn cậu, cậu còn trẻ, cậu phải nghĩ tới tương lai của mình. Há chẳng phải cậu muốn lấy một cô vợ xinh đẹp, sinh hạ cho cậu con đàn cháu đống sao? Cuộc đời chốn sơn lâm mãi võ chả hấp dẫn gì những cô gái đâu. Rồi để ăn no mặc ấm thì cần phải có tiền. Phải trả tiền cho hết bà mai rồi tới gia quyến nữa. Không có tiền, cậu chỉ lấy được hạng đui què mẻ sứt hay điên điên khùng khùng thôi… Hoặc là không bao giờ cưới được vợ, vì giá phụ nữ tăng lên qua từng cuộc chiến tranh…

Ánh mắt chòng chọc của Lưu Bé Bự làm chàng đỏ mặt đến tận mang tai. Thẩm Phong có cảm giác Lưu Bé Bự đọc được từng giấc mơ ban đêm của chàng. Chàng nhấp thêm trà để xóa nỗi hoang mang. Nhưng giọng nói của tay buôn đồ cổ lại vang lên:

– Thời nay chẳng mấy ai biết nghe nhạc. Nghệ thuật chơi đàn cổ cầm tiêu biến rồi mà cái vinh dự có được một cây đàn thì vẫn còn. Những quan lại mới nổi và quan lại triều đình vốn ngày xưa chỉ là những kẻ hèn mạt, những ông hoàng này ngày xưa chổng mông cặm cụi ngoài đồng giờ lại đâm ra mê những đồ cổ còn sót lại qua nhiều cuộc chiến. Kẻ nào cũng mơ có được một cây đàn cổ cầm cổ trên bàn để ra vẻ quý phái và có học. Khi chúng mua đàn, chúng thích tán dương lẫn nhau. Vì chỉ có những kẻ giàu có và uy quyền nhất mới mua được đàn đắt nhất. Cách đây tám tháng, ta bán được một cây từ thời Tam Quốc mà theo truyền thuyết là cây đàn của tướng quân Chu Du nhà Đông Ngô. Cậu đoán giá chót xem bao nhiêu…

Khuôn mặt Lưu Bé Bự nhăn lại như bông hoa lài. Y ghé sát tai Thẩm Phong thì thầm:

– Không ít hơn một trăm lượng vàng ròng.

Lưu Bé Bự đứng dậy, đi ra phía sau tấm màn gió có bức vẽ thư pháp tuyệt đẹp khảm xà cừ, rồi đi ra với một hòm gỗ thếp màu tím có hoa bằng vàng trong tay. Y quỳ gối, cẩn thận đặt nó lên thảm, lấy đai chìa khóa trên thắt lưng rồi chọn một chiếc mở cái khóa. Y nhấc một vật được quấn nhiều lớp vải lên. Y nhẹ nhàng tháo băng vải, để lộ ra một cái bao tre hơi tã rồi lôi ra một cây đàn đầy cát có một góc đã hỏng.

– Một kỳ quan chứ hả? Đích thị là vậy! Này, chạm vào nó xem! – Lưu Bé Bự vừa nói the thé vừa đặt nó lên đầu gối của chàng thợ đàn trẻ.

Thẩm Phong thổi bụi trên mặt đàn rồi nâng vạt áo chùi từng chút. Thoạt nhìn, chàng nhận thấy đó là một cây đàn có nước sơn cũ lắm rồi, mang trên mình những vết rạn hình vảy cá. Chàng đem nó ra ánh sáng rồi quay ngược nó lại. Bên dưới, một cái tên được khắc theo kiểu khắc trên trống vàng đã bị phai đi nhiều. Duỗi thẳng tay cầm, chàng ngắm nghía nó ở xa một chút. Dù nhạc cụ đã được đẽo theo kiểu phổ thông nhất dưới thời Hán, nó vẫn không có được vẻ thanh thoát vốn có của thời ấy. Chàng trả nó lại cho Lưu Bé Bự mà không nói lời nào.

– Nhìn nó lần nữa đi. Chẳng thể ngắm được vẻ đẹp nào tương tự nó đâu. Nó là kỳ phẩm thời nhà Hán vinh hiển đó. Thật kỳ diệu, nó đã thoát khỏi những bộ tộc dã man cướp phá và sống sót qua chiến tranh! Cậu có biết nó thuộc về ai không? Thuộc về nàng Sái Văn Cơ, tác giả của Bi phẫn thi Hồ già thập bát phách. Cậu không muốn thử âm thanh của nó hay sao? Cậu có muốn lên dây ngay tại chỗ không?

– Không. Không cần. – Thẩm Phong trả lời. – Cây đàn cổ cầm thời Hán giả sẽ tạo ra những âm thanh đục ngầu: nó dùng để trang hoàng bàn ăn hoặc để treo trên tường, không dành cho nghệ sĩ. Cảm ơn vì chén trà. Xin phép ông cho tôi được đi.

Khuôn mặt của tay buôn đồ cổ méo xệch. Y hết nhìn cây đàn rồi nhìn chàng thợ đàn trẻ tuổi. Bất thình lình, y bật cười.

– Được. Được lắm. Nó là đồ giả đó! Ta muốn thử mắt cậu thôi! Sư phụ của cậu nói với ta, lão đang nuôi dạy một thiên tài. Ta nghĩ lão bốc phét. Nhưng lão đã không dối ta! Thẩm Phong, ta cần cậu và cậu cần ta. Ta muốn cậu làm cho ta một cây đàn theo kiểu thời nhà Hán sao cho người ta không bao giờ nghi ngờ nó là đồ giả. Ta sẽ cho cậu một phần tư tài sản của ta.

Thẩm Phong nghiêng người lần nữa rồi đứng dậy.

– Xin thứ lỗi. Tôi phải đi.

Tay buôn đồ cổ nhảy phóc dậy, mặc dù y rất nặng nề, rồi biến mất sau tấm màn gió trước khi nhanh chóng trở lại.

– Hãy cầm lấy, một món quà. Cuốn Hồ già thập bát phách. Cẩn thận, nó đã được sao chép từ bản viết tay ở thư khố triều đình Đông Ngô. Trong số những phiên bản còn tồn tại, nó nổi tiếng là trung thành nhất với bản gốc.

Thẩm Phong muốn từ chối nhưng tay chàng đưa ra nhận cuốn sách dù không hề muốn. Chàng gần như giật nó từ tay gã buôn đồ cổ rồi cúi người thật thấp.

– Không cần cảm ơn, – Lưu Bé Bự hoan hỉ nói. – Hãy nghĩ tới đề nghị của ta. Chúng ta sẽ kiếm được rất nhiều tiền đó!

Nhìn chằm chằm khuôn mặt của người thợ đàn trẻ tuổi, y hớn hở nói đến bắn cả nước bọt:

– Con gái của nhà thơ vĩ đại Sái Ung là nàng Sái Văn Cơ từng bị người du mục bắt. Trong mười hai năm, nàng đã sống trong gió phương Bắc, giữa ngựa và cừu, nàng đã viết mười tám điệu phách cho đàn cổ cầm để thể hiện nỗi buồn và thương nhớ quê nhà. Nàng đã được Tào Tháo chuộc lại bằng một xe chở đầy vàng ngọc, châu báu cho người man di. Theo thiển ý của ta, một cây đàn nàng từng chơi chắc sẽ có giá ít nhất là hai trăm lượng vàng ròng. Được rồi… ta có một vụ hay hơn… Khi nàng Sái Văn Cơ trở về Trung Nguyên, nàng đã tặng cây đàn của nàng cho Tào Thực, là con thứ hai của Tào Tháo. Cũng là một nhà thơ nổi tiếng giống cha là Tào Tháo, Tào Thực bị anh mình là Tào Phi giết vì ghen tài. Tào Phi soán ngôi, lật đổ triều Hán, lập triều Tào Ngụy. Sau đó, cây đàn này đã thuộc về bộ sưu tập của các hoàng đế. Nhưng hỡi ôi, trong cuộc chinh phạt cuối cùng của người man di, nó đã bị một con hầu trong triều cướp mất rồi trốn thoát khi triều đình vượt sông Dương Tử. Một trăm năm sau, ta, nhà buôn đồ cổ họ Lưu, tìm được nó trong nhà một người nông dân. Sao ta lại nói nó thuộc về nàng Sái Văn Cơ ư? Nghe này Thẩm Phong và ghi nhớ trong lòng cậu, bởi vì trên lưng nó được khắc tên là…