Chúa sẽ phù hộ em – Cố Khúc [Chương 3.4]

Tôi mơ hồ hỏi tiếp: “Cho nên?”

“Cho nên người dân trong thôn, bao gồm cả vợ của Abbas đều chấp nhận lời giải thích này.”

“Lời giải thích nào? Không lẽ…”

Lâm chậm rãi gật đầu, tiếp: “Đúng, tất cả đều là lỗi của người chăn dê, chúng ta không có lỗi gì cả, thậm chí còn là người bị hại.”

Tôi tròn mắt á khẩu, một lúc lâu sau mới lắp bắp: “Không thể nào… anh đùa kiểu gì vậy?”

Nhưng thái độ của Lâm lại không giống như đang đùa một chút nào cả. Giọng tôi đột nhiên cao vống lên rồi lại vội vã hạ xuống: “Abbas là người chuyên dẫn đường trên núi cao, đi ủng cao su trên nền tuyết có khác gì đi dưới đồng bằng, anh ta bị một đàn dê húc xuống vách núi ư? Sao có thể như vậy được?”

Lâm không trả lời, quay lại nhìn tôi với vẻ thẫn thờ. Tôi từ từ bình tâm lại, phải, người chết là hết, hiện giờ quan trọng không phải là thực tế chuyện xảy ra như thế nào mà là ai chịu trách nhiệm với cái chết của Abbas. Người chăn dê nhận toàn bộ trách nhiệm là kết quả tốt nhất, họ là người cùng thôn, mọi người đều nghèo, đền vài con dê là xong việc. Nói vậy nghĩa là ngày mai chúng tôi có thể phủi mông ra đi được rồi? Không cần chịu trách nhiệm, không cần xin lỗi, không cần đền bù… kết quả này thực sự tốt tới mức không thể tốt hơn được nữa, nhưng tại sao lòng dạ tôi lại rối bời như thế này?

“Người chăn dê đồng ý đền tám con dê.” Lâm hạ giọng nói, sau đó thì im lặng. Trong không gian im ắng chỉ nghe thấy tiếng thở gấp gáp của anh ta, mấy chữ này như thể sống dậy, không ngừng quấn lấy tôi. Tám con dê, chỉ có tám con dê, tính mạng của Abbas chỉ bằng tám con dê thôi.

Đột nhiên, Lâm quay đầu lại, hỏi: “Ngải, tôi còn bao nhiêu tiền?”

Mặc dù không hiểu tại sao bỗng dưng anh ta lại nhắc tới tiền nhưng tôi vẫn lôi toàn bộ số tiền đó ra cho anh ta. “Phần lớn bị bay xuống vách núi rồi, một số thì bị đàn dê giẫm lên, cho nên phần còn lại cũng chỉ có hơn một nghìn đô la thôi.”

Lâm khẽ thở dài, một lát sau lẩm bẩm: “Chắc là vẫn có thể mua chút gì đó.”

Thì ra anh ta nghĩ tới điều này, nhưng mấy chữ ít ỏi chỉ khiến tôi càng thêm bối rối, cứ tưởng chuyến đi tới Pakistan này chẳng qua chỉ là một chuyến công tác nên chẳng mang theo nhiều tiền, lục khắp người cũng chỉ có khoảng hai trăm đô la.

Khi lộn túi áo khoác ra, vô tình chạm phải cái túi áo đã bị rách, tôi khẽ khựng lại, nghĩ nếu mình không tùy tiện nhét mười ngàn đô la vào trong túi, nếu như chiếc áo này không phải là loại áo rẻ tiền mua ngoài chợ, nếu như sừng dê mắc vào một chỗ khác thì có lẽ Abbas giờ vẫn còn sống.

Đúng lúc này, tôi nghe thấy tiếng Lâm: “Phải rồi, Wughi đề nghị chúng ta hãy ở lại đây dưỡng thương, đợi khi nào vết thương khỏi, ông ta sẽ cử người đưa chúng ta ra ngoài. Tôi đã đồng ý rồi.”

Tôi ngạc nhiên, hỏi lại: “Họ đề nghị chúng ta?”

Lâm ngẩng đầu, chăm chú nhìn tôi, trong mắt anh ta từ nãy tới giờ luôn thấp thoáng những cơn sóng ngầm, nhìn kĩ lại dường như không phải. Sau khi nói xong câu này, anh ta liền quay mặt đi, một lát sau thì trở về chỗ chiếc đệm của mình, nằm xuống, lại còn kéo chăn che kín đầu, để lại tôi một mình thẫn thờ trong đêm tối, sau đó, dần dần bị bóng tối nuốt chửng.

Theo truyền thống của người Balti, khi một người dẫn đường hoặc một phu khuân vác bị thương nặng, bị ốm hoặc chết và không thể hoàn thành công việc khách hàng giao thì người nhà của họ hoặc đồng hương sẽ tiếp nhận và hoàn tất. Đây gọi là có trước có sau, bụng làm dạ chịu.

Advertisements

Chúa sẽ phù hộ em – Cố Khúc [Chương 3.3]

Thấy tôi không ngừng đi qua đi lại, Sila mỉm cười, ấn vai tôi ngồi xuống, chỉ vào cốc sữa chua và bánh Chapati trên bàn, ra hiệu bảo tôi ăn. Tôi miễng cưỡng cầm một miếng bánh lên ăn, cảm thấy thật nhạt nhẽo, vô vị.

Khi mùi trà Bạch Ngọc từ từ bay ra từ phòng khách, hơn chục người đàn ông lần lượt đi vào, nét mặt vô cùng nghiêm nghị. Tại đa số khu vực hẻo lánh của Pakistan, những việc đại sự trong thôn thường do những bậc bô lão đức cao vọng trọng hoặc những người có kiến thức uyên bác thảo luận và quyết định, những cuộc họp trưởng lão như thế được gọi là “Chi nhĩ cách”, tôi đoán những người đàn ông này chắc hẳn chính là các bậc trưởng lão của thôn Gama.

Theo sau những trưởng lão là người chăn dê với nét mặt đau khổ, tiếp sau đó là một nhóm gồm ba người: Một thanh niên cao to vạm vỡ, một đứa trẻ vẫn đang thò lò mũi xanh và một người phụ nữ đang khóc thút thít. Đó là vợ và hai đứa con trai của Abbas: Kangkun và Ali. Kangkun khoảng mười tám, mười chín tuổi, còn Ali vẫn còn bé tí, sợ sệt nép sau lưng anh.

Nhìn thấy ba người này, tâm trạng vừa mới yên ổn một chút của tôi lại bắt đầu thấp thỏm, lo lắng tới mức cảm thấy khó thở. Sila vỗ vào người tôi, an ủi: “Bây giờ không sao rồi, đừng lo lắng, không có việc gì rồi.” Bà ta cho rằng tôi lo lắng về cái chết của Abbas, xét ở một số phương diện thì đúng là như vậy. Trong lòng tôi như có một lỗ hổng, giống như dòng sông Broughton mang theo những tảng băng trôi đang cuồn cuộn chảy, đang gào thét, giằng xé, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra có hỏi Sila cũng vô ích, bà ta chỉ biết vài từ tiếng Anh ít ỏi, cũng giống như tôi chỉ biết vài từ tiếng Balti.

Quãng đường dài lại thêm tâm lí lo lắng, sợ hãi, giờ nói chuyện với Sila lại cứ ông nói gà bà nói vịt thế này đã lấy đi chút sức lực cuối cùng của tôi. Tôi đổ gục xuống chiếc đệm mềm mại, sức cùng lực kiệt, gân cốt rã rời, cũng không biết là mấy giờ mà đã nhắm mắt lại. Được rồi, dù sao thì cũng phải chết, mọi việc cứ đợi ngủ dậy rồi tính tiếp.

Không biết bao lâu sau, đột nhiên tôi nghe thấy có người gọi: “Ngải, tỉnh dậy đi! Ngải!” Khi nhận ra đó là giọng của Lâm, tôi lập tức ngồi bật dậy như cái lò xo, vội vã hỏi: “Anh về rồi à? Thế nào, mọi người đã nói những gì?”

Có lẽ tôi đã ngủ một lúc khá lâu, vì thấy bên ngoài bầu trời u ám, đồng hồ đeo tay chỉ sáu giờ, nhưng không biết là sáu giờ tối hay sáu giờ sáng, ngoại trừ tiếng “lách tách” thi thoảng phát ra từ đống lửa trong bếp lò, xung quanh hoàn toàn yên tĩnh, những người khác không biết đã đi đâu.

Trong ánh lửa chập chờn, sắc mặt của Lâm rất phức tạp, khiến tôi một lần nữa lại chột dạ, hỏi: “Họ đã đưa ra quyết định chưa?”

Anh ta liếc nhìn tôi rồi cất giọng trầm trầm: “Ngải, năm ngoái cũng có một đứa trẻ bị đàn dê húc ngã xuống vách núi.”

Tôi thần người, hỏi: “Có đứa trẻ cũng bị đàn dê húc xuống vách núi sao? Chuyện này có liên quan gì tới việc của Abbas?”

Lâm không thèm bận tâm tới tôi, nhẹ nhàng nói tiếp: “Những việc như thế này không phải lần đầu tiên xảy ra, trên thực tế hàng năm đều có… Chuyện đàn dê làm chết hay bị thương người khác không phải là việc gì mới mẻ.” Giọng của anh ta rất nhẹ, nhưng không hiểu sao nghe anh ta chậm rãi thốt ra hai câu này, trán tôi lại đầm đìa mồ hôi.

Ánh mắt của Lâm lướt qua tôi rồi hướng về một nơi xa xăm. “Người chăn dê đã nhận toàn bộ lỗi lầm, là anh ta đã không nhìn thấy chúng ta ở bên vách đá, là đàn dê của anh ta đã húc Abbas xuống vách đá, khúc ngoặt đó hẹp như vậy, trời lại tối, cho nên anh ta không nhìn thấy chúng ta…”

Chúa sẽ phù hộ em – Cố Khúc [Chương 3.2]

Tôi và Lâm muốn đi theo dân làng xuống hạ lưu sông tìm kiếm nhưng bị mấy người lớn tiếng quát tháo, để không làm tình hình thêm rối loạn, chúng tôi đành đứng yên, cũng không dám nói gì, thỉnh thoảng lại liếc nhìn nhau, thấy sắc mặt đối phương đã trắng bệch như người chết trôi, tóc cũng ướt sũng, dính bết vào cổ, cũng không biết là do sương hay mồ hôi, người thì run bần bật trong buổi sáng lạnh thấu xương. Khi ánh mặt trời rọi xuống, hai người dân làng mệt mỏi bước tới ra hiệu cho chúng tôi đi theo họ về thôn.

 

Thôn Gama được bao bọc bởi núi đá, những căn nhà bằng đá xám xịt kề sát nhau, như thể mỗi căn nhà đều được xây dựng trên nóc của một căn nhà khác, bất kể là nhà hay đá đều bị tuyết phủ kín, lặng lẽ đứng im trong đất trời lạnh lẽo và núi đồi cao ngất bao quanh.

Trưởng thôn Gama tên là Wughi, một cụ già với vẻ mặt đau thương, đang đứng rất nghiêm trang trước dãy nhà bằng đá. Nhìn thấy chúng tôi, ông ta lặng lẽ quay người, ra hiệu chúng tôi đi theo. Tôi và Lâm bước thấp bước cao đi theo, dọc đường chỉ im lặng. Tôi như kẻ mất hồn, thi thoảng liếc mắt nhìn Lâm, nét mặt anh ta vô cùng buồn bã, hoàn toàn không thể đoán được anh ta đang nghĩ gì. Đôi lúc, sự day dứt và cảm giác tội lỗi có thể khiến một người gục ngã. Câu này do ai nói nhỉ? Đầu óc tôi rất hỗn loạn, rất đau… sợ hãi, hoảng loạn, đau lòng… tất cả cảm xúc đều đè nén trong tim. Tôi liên tục hít thở thật sâu, cố ép bản thân đừng nghĩ đến Abbas nữa, dù sao việc cũng đã rồi, nhưng tôi lại không thể không nghĩ…

Abbas chết rồi, mà việc này lẽ ra có thể không xảy ra, nếu anh ta không tới cứu tôi và Lâm, nếu tôi không cẩu thả nhét tiền vào trong túi áo khoác ngoài… nhưng đời không có chữ “nếu”.

Ông cụ nãy giờ đi phía trước đột nhiên quay đầu lại, phóng ánh mắt như thấu cả tâm can về phía tôi rồi lập tức quay đi, bình tĩnh bước tiếp như thể cảnh tượng ban nãy hoàn toàn chưa từng xảy ra. Nhưng tôi lại như kẻ làm việc xấu bị bắt quả tang, mà sự thật đúng là như vậy, vô cùng hoảng loạn. Lâm liếc nhìn tôi, đột nhiên giơ tay nắm chặt lấy tay tôi, những ngón tay thon dài, lòng bàn tay ấm áp vẫn còn ươn ướt. Tôi hơi khựng lại.

Một đám trẻ con không biết từ đâu xuất hiện, bám theo chúng tôi như cái đuôi sao chổi, vừa tròn mắt hiếu kì vừa không ngừng gọi: “Chijili? Chijili?” Đây là câu tiếng Balti mà người nước ngoài nào cũng hiểu, ý là: “Có chuyện gì vậy?”

Tại vùng núi Karakoram rộng lớn, ngoài những người phu khuân vác kiêm luôn nhiệm vụ dẫn đường cho người nước ngoài như Abbas ra, hầu như không có mấy người biết tiếng Anh, vậy mà hình như trong cái thôn Gama bé tí tẹo này, những người biết tiếng Anh cũng không hề ít. Chí ít ông trưởng thôn Wughi trước mặt chúng tôi lúc này là một người như vậy.

Nhưng Wughi không hề nhìn chúng tôi lấy một lần, chỉ lặng lẽ dẫn chúng tôi vào một ngôi nhà. Nhìn từ bên ngoài, tất cả các ngôi nhà đều giống hệt nhau, chẳng khác gì các vách đá, ngoại trừ có một cánh cửa. Một người phụ nữ khoác chiếc khăn choàng thêu hoa bước ra, bà ta là vợ của Wughi, tên là Sila. Bà ta đưa tôi vào phòng sau, còn Lâm thì được gọi ra một căn phòng lớn nhất ở giữa nhà, đó chính là phòng khách.

Ở Pakistan, phụ nữ thường không có quyền nghị sự, không có việc gì thì cũng không chạy ra phòng khách. Nhìn bóng Lâm khuất dần, tôi biết anh ta bị gọi đi bàn bạc việc hậu sự của Abbas, trong lòng càng bứt rứt đứng ngồi không yên, muốn làm gì đó nhưng lại không làm được gì cả. Trong cuộc sống luôn có những lúc ngoài việc đối mặt với hiện thực thì không còn cách gì khác, giống như lúc này vậy.

Tôi phải đợi dân làng bàn bạc xong mới biết kết quả, không biết sẽ phải bồi thường hay làm trâu làm ngựa đền tội đây? Có khi nào bị lôi đi chém đầu thị chúng không? Bất luận kết cục là gì, tôi đều sẵn sàng chấp nhận, mà cũng chỉ có thể chấp nhận.

Chúa sẽ phù hộ em – Cố Khúc [Chương 3.1]

Chương 3

Thôn Gama

View this post on Instagram

“Vì sao anh vẫn chưa tìm cho mình một cô gái để kết hôn?” Anh sửng sốt nhìn tôi, tôi lập tức nhận ra mình đã quá đường đột, vội nói: “Xin lỗi, coi như tôi chưa nói gì.” Nhưng anh lại không định coi như tôi chưa nói gì. Sau vài phút suy nghĩ, anh chậm rãi trả lời: “Tại sao tôi vẫn chưa lấy vợ, chẳng phải em đã biết rồi sao?” “Sao cơ?” “Người đầu tiên chưa cưới đã chạy mất, gần đây mới tìm được một người khác, nhưng xem ra cũng muốn bỏ chạy.” [CHÚA SẼ PHÙ HỘ EM – CỐ KHÚC] #ChúaSẽPhùHộEm | #CốKhúc | #SáchHayTháng4

A post shared by Sách Amun Đinh Tị (@amunbooks) on

Gió núi táp thẳng vào mặt, thấp thoáng nghe thấy tiếng va đập, sau đó tất cả lại trở về với trạng thái cũ.

Tôi nghe thấy tiếng thét gọi của người chăn dê, cũng biết đàn dê đang rất hỗn loạn, nhưng cứ cảm thấy thật khó hiểu. Abbas chỉ bị ngã xuống núi thôi, giống như tôi cũng bị ngã vậy, chẳng phải bây giờ tôi vẫn rất ổn sao, Abbas cũng sẽ ổn thôi. Biết đâu lúc nào đó, ở một nơi nào đó, anh ta sẽ lại xuất hiện, trên mặt vẫn sẽ là nụ cười rạng rỡ. Thế là tôi nín thở chờ đợi, dỏng tai lên nghe ngóng… nhưng Abbas không xuất hiện nữa.

“Abbas?” Tôi bám vào vách đá, thận trọng trèo xuống, vừa trèo vừa gọi to: “Abbas…” Anh ta nhất định đang ở dưới đó, có thể đã bị thương, chuyến đi này có ai trên người không có vài vết thương chứ, chỉ cần vẫn ở đó thì sẽ có cách. Trèo xuống khó hơn trèo lên rất nhiều, tôi vô cùng lo sợ, mỗi bước đi đều cần phải thật chắc chắn, Abbas vẫn đang ở dưới kia… Đột nhiên, một bàn tay ôm chặt lấy tôi. Lâm đã chạy đến ngăn tôi lại, nói: “Ngải, đừng đi xuống nữa, nguy hiểm lắm!”

Tôi vẫn giữ nguyên tư thế, nhíu mày, nói: “Abbas ngã xuống dưới rồi, có lẽ vẫn đang ở đó, chúng ta phải đi cứu anh ấy!”

“Anh ấy không có ở đó đâu. Ngải, tôi nhìn thấy anh ấy rơi xuống sông rồi…”

“Vậy thì đi ra chỗ sông, chúng ta vớt anh ấy lên.”

Lâm ngập ngừng nói: “Chỗ sông… cũng không có. Ngải, nước sông chảy xiết như vậy, anh ấy… đã bị cuốn đi rồi.”

Tôi ngắt lời anh ta: “Có khi bị mắc vào chỗ nào đó thì sao? Hoặc có thể bị nước xô vào bờ?” Nói rồi, tôi vùng ra định đi tiếp, nhưng Lâm không chịu buông tay ra. Tôi khẽ rít lên: “Lâm, nếu là anh bị ngã xuống đó, cho dù đã bị nước sông cuốn trôi, tôi cũng sẽ đi xuống, cho dù không còn một tia hi vọng, cho dù không còn bất cứ thứ gì, tôi cũng sẽ đi xuống đó!”

Lâm hơi khựng lại, nhìn tôi chăm chăm, sau đó buông tay ra, thở dài, khẽ nói: “Được, vậy chúng ta cùng xuống, có điều cô phải đi chậm thôi.”

Tôi gật đầu.

Khi tôi và Lâm vẫn đang giằng co với nhau bên vách đá, người chăn dê đã trèo xuống dưới. Anh ta vừa trèo vừa gào to lên với chúng tôi, nhưng tôi không hiểu anh ta nói gì, chỉ cảm thấy anh ta đang rất lo lắng. Người chăn dê đó đã quen với đường núi, tốc độ trèo xuống không biết nhanh hơn gấp bao nhiêu lần so với tôi và Lâm, có vẻ như anh ta muốn xuống trước để tìm kiếm. Vậy là sắp có tin của Abbas, sắp tìm thấy Abbas rồi. Chưa biết chừng anh ta đã bị ngất xỉu nên mới không nghe thấy chúng tôi gọi, và lát nữa, người chăn dê kia sẽ cõng anh ta lên.

Vách núi phía dưới hiện lên ánh đèn vàng lấp loáng, đó là ánh đèn pin của người chăn dê, anh ta đã trèo xuống chỗ thấp nhất rồi. Sau đó, ánh đèn vàng bắt đầu hướng ra phía bờ sông, tiếp sau đó lại ánh lên vài lần rồi không thấy đâu nữa. Xem ra anh ta đã chạy ra phía sau những tảng đá khổng lồ trên sông Broughton rồi.

Tới khi tôi và Lâm trèo được xuống chỗ thấp nhất, người chăn dê cả người ướt sũng chạy tới, trên tay xách một chiếc ủng cao su Trung Quốc. Anh ta hét lên, ra hiệu chúng tôi đứng đợi ở đó, sau đó chạy như bay về phía thôn Gama. Thời gian dường như chỉ trong nháy mắt nhưng cũng lại rất lâu, vô số ánh đèn pin từ bên kia núi rọi tới. Tới nửa đêm, cả hai bên bờ sông Broughton và trên vách núi, chỗ nào cũng là dân làng Gama. Gần sáng, dân làng men theo bờ sông đi xuống hai mươi dặm và tìm thấy thi thể lạnh giá của Abbas.

Chúa sẽ phù hộ em – Cố Khúc [Chương 2.10]

Mặc dù cũng vui lây với tâm trạng sung sướng của Abbas nhưng tôi vẫn không sao cười nổi, ngày mai mới có thể qua sông ư? Phải ở ngoài trời thêm một đêm nữa ư? Fenbid đã uống hết mất rồi, đêm dài trước mắt sẽ phải làm sao đây? Còn nữa, chúng tôi phải đi thêm một giờ đồng hồ nữa, rời khỏi bờ sông ẩm ướt này mới có thể tìm được nơi thích hợp để ngủ, điều đó có nghĩa là sáng sớm ngày mai lại phải quay lại đây một lần nữa.

Đúng lúc này, Lâm lên tiếng: “Nếu như quay lại cũng mất một giờ đồng hồ, vậy bây giờ qua sông, sau đó tranh thủ tối nay đến thôn Gama luôn thì thế nào?”

Abbas lắc đầu lia lịa, chỉ vào dòng sông Broughton, đáp: “Không được, thủy triều đang lên, nguy hiểm lắm!”

Lâm ngoái đầu quan sát dòng Broughton, khoảng cách giữa hai bờ bắc nam dùng mắt thường ước tính nhiều nhất cũng chỉ vài trăm mét, nếu thuận lợi chỉ mất vài chục phút, nhiều nhất là nửa tiếng đồng hồ nhất định có thể qua được. “Chúng ta sẽ qua trước khi thủy triều lên! Hơn nữa, vì việc này tôi sẽ trả thêm tiền công cho anh. Thế nào, có được không?” Giọng anh ta đầy vẻ dụ hoặc.

Câu cuối cùng mới là trọng điểm, đặc biệt là đối với người nghèo, Abbas bắt đầu lưỡng lự. Tôi nhìn Lâm đầy ngưỡng mộ, em Lâm hôm nay mới ngầu làm sao!

Về sau, tôi luôn ân hận về sự ngu ngốc lúc này của mình, nếu biết nể sợ thiên nhiên, nếu biết thế nào là trời cao đất dày, nếu tôi nghe theo lời can ngăn của Abbas, nếu tôi có thể nhận ra mình và Lâm đang cậy thế ức hiếp người khác… tôi nguyện bất chấp tất cả để thay đổi quyết định của mình.

“Bây giờ qua sông luôn.” Lâm cương quyết nói.

Ánh mắt của Abbas đưa qua đưa lại giữa bàn tay tím bầm co quắp của tôi và cái chân bị thương của Lâm, cuối cùng anh ta miễn cưỡng gật đầu.

Chúng tôi xếp theo hàng dọc, Lâm đi đầu, Abbas ở giữa, tôi đi sau cùng, thận trọng bước lên tảng đá đen đầu tiên ở bãi sông. Có đứng trên những tảng đá này mới biết dòng sông Broughton cuồn cuộn như một cái máy xay thịt khổng lồ, có lẽ vì lòng sông đột ngột bị thắt lại ở chỗ này nên đâu đâu cũng là nước xoáy nước ngầm, hơn nữa càng lúc càng mãnh liệt. Những cột sóng lẫn với băng tuyết dâng cao, chốc chốc lại ào tới làm chúng tôi ướt sũng từ đầu tới chân; nếu bị rơi xuống, không quá một giây, chúng tôi sẽ bị nghiền nát, ngay đến bã cũng chẳng còn.

Abbas đỡ Lâm đi một cách khó nhọc, mỗi bước đều quay lại dặn dò tôi: “Tiểu Ngải, mỗi bước đều phải giẫm lên vết chân cũ của tôi, nhớ đấy, mỗi bước!” Tôi gạt những giọt nước trên mặt, lo lắng gật đầu, biết rằng những tảng đá này mặc dù trông thì vững như Thái Sơn nhưng có những tảng chỉ là đá cuội, chạm nhẹ vào là lung lay, lúc đó tính mạng sẽ khó bảo toàn.

Hơn nửa giờ sau, chúng tôi đã vượt qua dòng sông và trèo được lên một quả đồi cao ở bờ nam. Đây là một vách núi gần như thẳng đứng, nhưng dù sao cũng cách xa dòng sông Broughton nguy hiểm rồi. Tôi thở phào, trên mặt Abbas cũng hiện lên một nụ cười nhẹ nhõm. Đêm nay, chúng tôi có thể uống trà ngọt và ăn bánh Chapati nóng hổi rồi, và quan trọng nhất là được ngủ trên một chiếc giường đúng nghĩa!

Đột nhiên, Abbas thét to một tiếng, đồng thời đẩy mạnh Lâm về phía vách đá, bắt anh đứng sát vào đó rồi lao về phía tôi, nhưng tất cả đã muộn.

Từ lúc lên bờ, tốc độ của tôi đã chậm lại. Đây là một con đường vòng ngược chiều kim đồng hồ, chỉ nhỏ bằng nửa thân người, bên trái là núi, bên phải là vực. Vì tôi bị thương bên tay trái nên đi đứng rất khó khăn. Lúc Abbas hét lên cũng là lúc cả ngọn núi rung chuyển. Một đàn dê mấy chục, mấy trăm, sau đó là mấy nghìn con kêu be be lao từ góc đường tới, tôi còn chưa kịp phản ứng thì chúng đã tràn tới chỗ tôi như dòng nước lũ, sau đó nhấn chìm tôi.

Trước kia, tôi chưa bao giờ so sánh một đàn dê với dòng nước lũ, nhưng đàn dê trước mặt hoàn toàn không nhìn thấy chúng tôi, chúng chen lấn, giẫm đạp, giành giật từng centimet đất trên con đường chật hẹp này.

Abbas gào lên: “Không được cử động, Tiểu Ngải, tuyệt đối không được cử động!”

Tôi không hề cử động nhưng sừng của sơn dương lại móc vào quần áo tôi, “xoạt” một tiếng, túi áo khoác rách toạc, mười nghìn đô la lập tức bị gió núi cuốn đi. Gần như là bản năng, tôi giơ tay túm lấy những đồng tiền đang bay như hoa rụng đầy trời. Mười nghìn đô la đối với tôi là một khoản tiền lớn, mất rồi sẽ không thể kiếm lại nổi, vì thế tôi không để ý thấy cơ thể mình đã tách ra khỏi vách núi, bỗng một nguồn lực ào tới, đẩy mạnh tôi vào vách núi.

Thời gian Abbas rơi xuống vực rất rất dài. Anh ta cong lưng về phía sau, mặt hướng về phía tôi, lúc rơi xuống còn làm mấy con sơn dương giật mình sợ hãi. Tôi nhìn thấy trên gương mặt nứt nẻ vì gió lạnh đó có nhiều nét kinh ngạc hơn là sợ hãi. Abbas dang rộng hai tay như thể muốn túm vào thứ gì đó, nhưng cuối cùng, anh ta không túm được cái gì cả, sau đó thì biến mất.

Tất cả giống như một cảnh quay chậm, cảnh tượng cuối cùng đọng lại trong đầu tôi là đôi chân dang rộng của Abbas, đôi ủng cao su sản xuất tại Trung Quốc, ngay đến tất cũng không có, sau đó, cả người anh ta rơi thẳng xuống vực sâu vạn trượng, không uốn lượn, không hề có tiếng gào thét, cũng không còn sau đó nữa…