Bến xe 4.2

Sau sự kiện đó, thầy Doãn ra sức gièm pha, bôi nhọ quan điểm của thầy Chương, mọi nơi, mọi lúc. Nhưng thầy ta không thể phủ nhận một sự thật, trong mỗi kỳ thi, dù thầy ta có giở trò với bài thi như thế nào, thành tích trung bình của lớp 1 bao giờ cũng cao hơn lớp 2 một, hai điểm. Các thầy cô đều đánh giá học sinh lớp 1 rất có năng lực, các em đều có khả năng cảm thụ ngôn từ rất tốt.

Sau khi hồi chuông hết tiết học vang lên, mọi vẻ ôn hòa, tán thưởng, vui vẻ trên gương mặt thầy Chương hoàn toàn biến mất như có phép thuật. Học sinh trong lớp không thể chấp nhận sự thay đổi bất thình lình đó, giống như không thể chấp nhận chuyện đang ở trên thiên đường rơi một phát xuống nơi thiêu xác đầy khói lửa. Học sinh cấp ba mười bảy, mười tám tuổi, không ai không sùng bái tri thức và học vấn, nhưng bọn họ càng hy vọng thầy giáo của mình có tình người hơn. Về phần thầy Chương, khi thầy nhắm mắt giảng bài, tình người thể hiện rất rõ. Khi thầy mở mắt, tình người bay đi một nửa. Đến khi thầy rời bục giảng, tình người biến mất hoàn toàn. Hơn nữa, hành vi cự tuyệt sự giúp đỡ trong ngày đầu tiên lên lớp của thầy đã khiến lòng tự trọng của đám học sinh bị tổn thương. Vì vậy, chúng không có cách nào có cảm tình với người thầy không có tình người như vậy. Chúng chỉ hoan nghênh thầy Chương trong giờ học, còn sau khi tan học, chúng đối với thầy luôn “kính nhi viễn chi[1]”.

Về phía các đồng nghiệp, thầy Chương càng không tránh khỏi việc bị đối xử lạnh nhạt. Đồng nghiệp thường đố kỵ nhau, tài hoa của thầy Chương đủ khiến thầy trở thành “oan gia” của tất cả thầy cô giáo trong tổ Văn. Hơn nữa, các phần tử trí thức làm sao có thể chịu nổi thái độ “tự cho mình là thanh cao”, chẳng bận tâm đến người khác của một người mù?

Do đó, các thầy cô giáo khác cũng trở thành “oan gia” của thầy Chương. Nhưng thầy Chương dường như không để ý xem thầy có bao nhiêu “oan gia”, bởi thầy không qua lại với bất cứ người nào. Việc thầy một mình một văn phòng là minh chứng rõ rệt nhất. Bất kể các “oan gia” bàn ra tán vào ra sao, thầy Chương cũng không hề có phản ứng. Cuối cùng, bọn họ coi thầy như không tồn tại.

Một thầy giáo luôn tránh xa tất cả mọi người nhưng lại cho phép Liễu Địch ở bên cạnh khiến ai nấy đều trố mắt kinh ngạc. Bàn đến nguyên nhân của việc đó trong lúc tán gẫu, mọi người đều kết luận: “Có lẽ do Liễu Địch chăm sóc thầy ta quá chu đáo.”

Quả thực Liễu Địch chăm sóc thầy Chương rất chu đáo. Ngày thứ ba sau khi nhập học, cô phát hiện bình nước giữ nhiệt trong văn phòng của thầy Chương thường không có gì, thế là sáng sớm hôm sau, cô đi lấy nước nóng cho thầy. Hai ngày đầu, bình nước vẫn còn nguyên. Đến ngày thứ ba, Liễu Địch phát hiện một gói trà ướp hoa bên cạnh bình nước. Cô mở nắp, nước trong bình đã cạn sạch. Dần dần, Liễu Địch nhận ra thầy Chương nghiện trà như người ta nghiện thuốc lá. Thế là sau khi đi lấy nước nóng, cô lại chủ động pha một cốc trà cho thầy Chương. Tất cả những việc này, Liễu Địch không nhắc một từ, thầy Chương cũng không bao giờ hỏi đến.

Đến kỳ dọn dẹp vệ sinh, Liễu Địch lại một mình tới văn phòng của thầy Chương quét dọn. Nhà trường cử thêm người giúp đỡ nhưng cô đều từ chối, bởi cô biết thầy Chương thích sự yên tĩnh. Cô nhẹ nhàng quét dọn phòng, lau bàn làm việc và cửa kính, cố gắng hết sức để không phát ra tiếng động.

Thầy Chương chỉ mím môi, chống tay lên đầu, ngồi trầm tư, không hỏi han Liễu Địch một câu. Trầm tư là sắc thái duy nhất trên gương mặt thầy. Liễu Địch biết, một khi rơi vào trạng thái trầm tư, thầy Chương sẽ ngồi bất động mấy tiếng đồng hồ, không người nào có thể cắt đứt mạch suy nghĩ của thầy. Vì vậy, sau khi kết thúc công việc, Liễu Địch âm thầm rời khỏi văn phòng.

Một tháng sau, thầy Chương đột nhiên nói với Liễu Địch: “Xin em hãy đến phòng Tài vụ lĩnh lương giúp tôi.” Không hiểu tại sao, khi thầy Chương nói đến từ “giúp”, Liễu Địch xúc động đến phát khóc.


[1] Câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ, có nghĩa là bề ngoài tỏ ra kính nể một người nào đó nhưng trên thực tế không muốn tiếp cận, gần gũi với người đó.

 

Bến xe 4.1

Kể từ hôm đó, tên của Liễu Địch gắn liền với thầy Chương.

Cô bắt đầu phụ trách việc đưa thầy Chương lên lớp và về văn phòng, đưa thầy tới bến xe buýt đợi xe mỗi khi tan học. Sau khi trở thành đại diện khối Văn, cô bắt đầu giúp thầy Chương phê bài tập làm văn vào mỗi buổi trưa. Sau kỳ thi giữa kỳ và cuối kỳ, cô còn tranh thủ thời gian rảnh rỗi thay thầy Chương viết những lời phân tích và nhận xét khách quan trên mỗi bài thi môn Ngữ văn. Cô trở thành người bận rộn nhất khối, người ra vào văn phòng của thầy Chương nhiều nhất.

Tuy nhiên, chỉ dựa vào những điều này, Liễu Địch vẫn chưa thể bước vào thế giới của thầy Chương. Thầy Chương không phải là người dễ tiếp cận. Thầy tránh xa tất cả mọi người, làm gì cũng lặng lẽ, một mình. Về điểm này, chỉ cần gặp thầy một lần, người ngu ngốc thế nào cũng có thể nhận ra. Thầy suốt ngày mặc bộ đồ có hai màu trắng đen đơn điệu, sống lưng luôn thẳng tắp, gương mặt vô cảm, hốc mắt trống không. Tất cả những điều này tạo thành hình ảnh lạnh lùng, vô tình, vô cảm không thay đổi. Vì vậy, dù có người muốn tiếp cận thầy và giúp đỡ thầy, cũng đều bị vẻ lạnh nhạt của thầy đánh bại.

Trong trường có một, hai người tốt bụng, vì sự đồng tình và thương hại, từng thử tìm cách giúp thầy Chương. Thầy đã từ chối bằng thái độ lịch sự nhưng vô cùng lạnh lùng, xóa bỏ hoàn toàn ý định của họ. Một thời gian sau, mọi người đều biết, “giúp đỡ” vĩnh viễn là từ cấm kỵ trong từ điển của thầy Chương. Do đó, không người nào dám nhắc đến từ đó trước mặt thầy, bao gồm cả Liễu Địch.

Có lẽ chỉ ở trên bục giảng, mọi người mới cảm thấy thầy Chương vẫn còn một chút sức sống và niềm hứng thú. Thầy Chương ở trên bục giảng khiến người khác có cảm nhận thầy đúng là “tài hoa xuất chúng”. Thầy quả nhiên không “đọc mẫu” thêm một lần nào nữa, nhưng cũng không còn người nào dám nghi ngờ khả năng thuộc lòng các tác phẩm nổi tiếng cổ kim, trong và ngoài nước của thầy.

Thầy luôn có cách nhìn độc đáo về các tác phẩm. Bài giảng của thầy vô cùng hấp dẫn. Những phân tích sâu sắc và cách trình bày vấn đề thấu đáo của thầy kích thích đám học sinh ở bên dưới thảo luận từ lớp học ra đến sân thể dục, từ trong trường học ra ngoài đường, từ hôm nay đến ngày mai.

Dần dần, vẻ lạnh nhạt của thầy Chương cũng ít nhiều thay đổi. Tuy rằng lúc học sinh cười ầm ầm, thầy vẫn điềm nhiên như không, nhưng vẻ mặt thầy đã trở nên ôn hòa hơn. Thỉnh thoảng thầy vẫn bộc lộ sự tán thưởng và vui mừng. Điều này khiến cả lớp cảm thấy thầy thêm gần gũi.

Một điều đáng quý là thầy không bao giờ gò ép hay hạn chế tư tưởng của học sinh, mà thường để những người “không cùng chính kiến” mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình.

Một lần, hiệu trưởng Cao và một thầy giáo khác trong tổ Văn tên Doãn Hồng dự tiết dạy của thầy Chương. Cả lớp tranh luận về văn phong của Lỗ Tấn[1] rất hăng say. Đặc biệt, ngôn từ của “bên phản đối” có vẻ kịch liệt, đến mức nhà văn Lỗ Tấn mà nghe được, chắc sẽ đội mồ chui lên để tranh luận cùng chúng.

Thầy Chương nghiêm túc lắng nghe ý kiến của hai bên, sau đó thầy đưa ra quan điểm của mình: “Có lẽ nhà văn Lỗ Tấn cũng không thích văn phong khô khan như vậy, nhưng ông buộc phải sử dụng nó. Bởi lối hành văn này là do thời đại ép buộc. Nếu Lỗ Tấn không có tinh thần trách nhiệm với thời đại và dân tộc, cứ sống nhàn nhã, thoải mái như Hồ Thích[2] hay Lâm Ngữ Đường[3], có lẽ văn phong của ông không đến nỗi lạnh lùng, nghiêm túc như các em nhận xét. Nhưng ông làm vậy, trên văn đàn sẽ thiếu đi một người chiến sĩ dùng ngòi bút thay giáo gươm. Xin hỏi, ở thời đại nhiễu nhương đó, chúng ta cần một dũng sĩ đối mặt trực tiếp với nhân sinh thê lương hay cần văn nhân phong hoa tuyết nguyệt?”

Thầy Chương vừa dứt lời, hiệu trưởng Cao đập bàn khen hay, đám học sinh cũng cảm thấy nhận thức của mình trở nên sâu sắc hơn. Sau tiết học, thầy Doãn chỉ trích thầy Chương “thả lỏng học sinh” ngay trước mặt hiệu trưởng và cả lớp. Thầy Chương chỉ lãnh đạm nói một câu: “Tôi cho rằng hạn chế tư tưởng là hành vi bóp chết tài năng.” Câu nói của thầy Chương nhận được tràng vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt, khiến thầy Doãn đỏ mặt tức giận.


[1] Lỗ Tấn (1881-1936): nhà văn đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc, bậc thầy của thể loại truyện ngắn, nổi tiếng với ngòi bút hiện thực sắc lạnh và sâu cay.

 

[2] Hồ Thích (1891-1962): tên thật là Hồng Tân, nhà văn, nhà triết học Trung Quốc thời cận – hiện đại, người truyền bá chủ nghĩa thực dụng ở Trung Quốc, cho rằng thực tại chỉ là các mối quan hệ về cảm giác giữa con người, ông theo thuyết duy tâm chủ quan, tuyên truyền tư tưởng tự do cá nhân, dân chủ và khoa học.

 

[3] Lâm Ngữ Đường (1895-1976): nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, người có công đầu trong việc giới thiệu văn hóa, văn học Trung Quốc ra thế giới.

 

Bến xe 3

Chuông hết tiết học vang lên nhưng không ai rời khỏi chỗ.

Thầy Chương lại chậm rãi dò dẫm bước xuống bục giảng. Không biết một cái cây lau nhà ở đâu bỗng chắn ngang trước mặt thầy. Thầy Chương không tránh khỏi việc giẫm lên cây lau nhà.

“Cẩn thận!” Vài học sinh vội lao lên đỡ thầy, trước khi thầy bị ngã.

Nào ngờ vào giây phút đó, người thầy Chương run lên bần bật. Thầy hất tay đám học sinh, giống như gạt bỏ con rắn độc bám trên người.

“Tránh ra! Tôi không cần sự giúp đỡ!” Thầy Chương gằn giọng.

Sự việc xảy ra nhanh chóng và đột ngột. Mấy bạn học sinh có lòng tốt ngây người đứng đó, nhất thời không rõ chuyện gì đang diễn ra. Chỉ trong giây lát, từ đáy lòng chúng dâng trào cảm giác bị tổn thương, chúng nghi hoặc nhìn nhau rồi lại quan sát gương mặt lạnh lẽo của thầy Chương. Cuối cùng, ai nấy về chỗ người nấy, sự hổ thẹn biến mất, ý nghĩ báo thù lại dấy lên. Chúng âm thầm chờ mong thầy Chương té ngã, cũng như mong đợi thầy bị mất mặt trong giờ học.

Chỉ có Liễu Địch lặng lẽ đi theo thầy Chương ra khỏi phòng học.

Đến đầu cầu thang, một cậu học sinh không biết từ góc nào lao tới, xô vào thầy Chương. Liễu Địch chạy vội đến đỡ thầy. Lần này, Liễu Địch nắm tay thầy rất chặt, thầy Chương không hất tay cô ra.

“Cám ơn em! Nhưng mời em đi cho!” Giọng thầy Chương vẫn lạnh lùng nhưng khá lịch sự. Có lẽ thầy không ngờ, người đang đỡ thầy là học sinh vừa bị thầy trách mắng.

“Để em đưa thầy về văn phòng.” Liễu Địch không buông tay.

“Không! Tôi không cần sự giúp đỡ.” Giọng của thầy đã trở nên nghiêm khắc, gần như mất kiên nhẫn. Vài học sinh từ trong phòng học thò đầu ra xem.

“Để em đưa thầy về văn phòng.” Liễu Địch vẫn không buông tay.

“Tôi nghĩ tôi đã nói rõ ràng rồi.” Thầy Chương cố kìm nén cơn giận dữ, nhưng thầy vẫn cao giọng: “Nếu em còn chưa nghe rõ, tôi có thể nói lại lần nữa, tôi không cần sự giúp đỡ. Bây giờ em đã nghe rõ chưa?”

“Em nghe rõ rồi.” Giọng nói của Liễu Địch rất bình tĩnh và kiên quyết. “Nhưng… xin thầy hãy cho phép em đưa thầy về văn phòng.”

“Nếu tôi không cho phép thì sao?” Giọng thầy Chương khàn khàn, lông mày nhíu chặt, tựa hồ chuẩn bị nổi nóng.

“Nếu thầy không cho phép, em sẽ buông tay ngay lập tức.” Liễu Địch không thấy run sợ trước thái độ của thầy, cô cất giọng trầm tĩnh, thẳng thắn và trong trẻo: “Có điều em sẽ đi theo thầy đến văn phòng. Trong khoảng thời gian đó, nếu thầy gặp phiền phức, em vẫn sẽ giúp thầy.”

“Sự giúp đỡ tốt nhất của em đối với tôi là tránh xa tôi ra.” Giọng của thầy Chương như đã bốc hỏa. “Tôi không cần người nào đóng vai Thượng đế ở bên cạnh tôi.”

“Em không phải Thượng đế, cũng chẳng muốn đóng vai gì.” Liễu Địch cất giọng không nhanh, không chậm, không cao, không thấp nhưng vang vọng khắp hành lang, truyền đến tai các bạn. “Em chỉ là học sinh của thầy. Với tư cách một học trò, em không muốn nhìn thấy người thầy em tôn kính và ngưỡng mộ bị xô ngã. Có lẽ thầy chịu đựng được điều này nhưng em không thể, giống như em không thể chịu đựng một tư tưởng cao quý bị người đời bôi nhọ.”

Thầy Chương đột nhiên trầm mặc.

Liễu Địch nhướng mắt, muốn nhìn điều gì đó từ gương mặt của thầy Chương. Đáng tiếc, thầy Chương vẫn giữ nguyên vẻ mặt vô cảm. Trên thực tế, gương mặt thầy từ đầu đến cuối không bộc lộ một sắc thái tình cảm nào, kể cả lúc thầy nổi giận.

Một lúc sau, thầy Chương lên tiếng: “Em là cô bé thích lo chuyện bao đồng.”

Không ngờ thầy nói ra câu này, Liễu Địch mỉm cười. “Không phải em thích lo chuyện bao đồng, đưa thầy về văn phòng tuyệt đối không phải chuyện bao đồng.”

Người thầy Chương khẽ run rẩy. Nếu không phải Liễu Địch đang đỡ tay thầy, cô sẽ không cảm nhận được sự chấn động này.

“Em rất cố chấp.” Sắc mặt thầy Chương vẫn vô cảm. “Đúng vậy, rất cố chấp, có thể nói là cố chấp như tôi.”

Liễu Địch lại cười. “Có lẽ vậy, nếu cũng được coi là cố chấp như thầy thì đó là vinh hạnh của em.”

“Vậy… ngoài cố chấp ra, em có thể bảo đảm em không phải là người nhiều lời?”

“Em xin dùng danh dự để bảo đảm.” Liễu Địch lên tiếng, giọng nói rất chân thành, kiên quyết và rõ ràng. “Em bảo đảm sẽ không hỏi một câu thừa thãi, sẽ không nói một câu tán gẫu không liên quan, sẽ không cùng người khác bàn tán bất cứ vấn đề gì liên quan đến thầy.”

Thầy Chương lặng lẽ thở dài. “Nếu em có thể giữ lời hứa, vậy thì… xin em…” Thầy mím môi. “Hãy đưa tôi về văn phòng.”

Bến xe 2.4

Thế nhưng, trước vô số ánh mắt sùng bái, thầy Chương vẫn lạnh lùng, vô cảm. Thầy cất giọng bình thản: “Các em còn cần tôi đọc tác phẩm nào nữa không?”[1]

“Đọc”? Lại là “đọc”? Những đứa trẻ mười sáu, mười bảy tuổi này, dù sùng bái một người đến mấy, cũng không thể chịu được sự ngông cuồng và miệt thị từ ngữ. Lớp học lại ồn ào. Trong âm thanh tạp loạn, một giọng nói trong trẻo vang lên: “Thưa thầy, tại sao thầy luôn gọi “thuộc lòng” thành “đọc”? Lẽ nào thầy lớn lên với kiểu “đọc” sách đó?”[2]

Đây là lời chất vấn của bạn cùng bàn Liễu Địch. Câu nói này dẫn đến một loạt tiếng nhao nhao chỉ trích. Mọi người bàn luận, trách cứ thầy, như thể đó không phải là người thầy chúng sùng bái vài phút trước mà là một tên tội phạm.

Chỉ có Liễu Địch không lên tiếng. Đúng ra là cô im lặng từ đầu đến cuối, không đặt câu hỏi với thầy, cũng không lên tiếng phê bình thầy.

Về phần thầy Chương, trước sự công kích của đám học sinh, thầy vẫn trầm mặc, tựa hồ những lời trách cứ ở bên dưới không liên quan đến mình.

Liễu Địch ngước nhìn gương mặt vô cảm của thầy bằng ánh mắt nghi hoặc, cô muốn tìm ra nguyên nhân của sự trầm mặc đó. Trong đầu cô vụt qua một ý nghĩ. Liễu Địch giật mình bởi ý nghĩ này, cuốn sách Ngữ văn trong tay cô rơi bộp xuống đất. Cô so vai, cố gạt bỏ ý nghĩ đó nhưng nó càng lúc càng rõ ràng trong đầu cô. Thầy không mang giáo án, thầy dò dẫm đi từng bước lên bục giảng, thầy luôn gọi “thuộc lòng” là “đọc”, thầy đeo cặp kính đen…

Trời ạ! Liễu Địch đột nhiên cảm thấy ý nghĩ này vừa chân thực vừa đáng sợ. Tai cô ù ù, cô ra sức lắc đầu, dường như chỉ làm vậy mới có thể gạt bỏ suy nghĩ điên rồ đó. Cuối cùng, cô lại ngước nhìn gương mặt thầy. Thầy dường như không phải đối diện với vô số gương mặt sống sờ sờ mà đối diện với sa mạc mênh mông, thậm chí là đêm tối vô tận.

Tiếng ồn ào trong lớp học dần lắng xuống. Các bạn nhanh chóng phát hiện, bất kể chúng chỉ trích thế nào, cũng không thể chọc giận người thầy đang đứng trên bục giảng. Đến khi phòng học không còn một tiếng động, thầy Chương mới từ tốn nói: “Các em, tôi không nói sai, đúng là tôi đang “đọc”. Bởi vì tôi chỉ có thể “đọc” những cuốn sách đã in sâu trong đầu óc tôi.”

Cả lớp ngẩn ngơ. Liễu Địch là người đầu tiên có phản ứng. Trong đầu cô vang lên một câu nói, thầy “đọc” bằng ngữ điệu đau đớn: “Hai mắt ông đã bị mù. Đúng vậy, Adward Rochester đã hoàn toàn trở thành người mù…”

Liễu Địch không thể kiềm chế tiếng kêu khe khẽ: “Trời ơi!”

“Thực ra…” Thầy Chương nói tiếp. “Môn Văn ở cấp ba không cần thiết phải đọc mẫu. Cứ đọc ra rả theo sách, đến bản thân tôi cũng cảm thấy tẻ nhạt, vô vị. Ngữ văn là môn bồi dưỡng học sinh có cảm giác với ngôn từ và con chữ. Nếu biến nó trở thành tiết học mổ xẻ nội dung và giáo dục tư tưởng, chi bằng ở bên dưới các em lén lút đọc tiểu thuyết còn hơn. Vì vậy, từ nay về sau tôi sẽ không đọc mẫu. Có điều…” Ngữ khí của thầy trở nên nặng nề. “Hôm nay, tôi phải đọc mẫu, tôi buộc phải làm vậy, dù có thể khiến các em hiểu nhầm tôi là kẻ ngông cuồng. Hy vọng các em hiểu lời tôi nói.” Ngừng một lát, thầy nói thêm một câu: “Đúng rồi, từ nay về sau, trong tiết ngữ văn của tôi, các em có thể tự động đứng lên phát biểu, không cần giơ tay.”

Không cần giải thích thêm điều gì, người ngu xuẩn nhất cũng hiểu hàm ý của câu cuối cùng. Nếu là trong hoàn cảnh bình thường, câu nói đó chắc chắn sẽ nhận được tràng vỗ tay nhiệt liệt. Nhưng bây giờ, các bạn cúi đầu hổ thẹn, không dám nhìn gương mặt nhợt nhạt của thầy Chương. Liễu Địch chống tay lên trán, nỗi đau đớn cô chưa từng trải qua dấy lên trong lòng. Cô không cảm thấy hổ thẹn, ngược lại cô chỉ muốn khóc.

 


[1] Thầy Chương dùng từ “độc” có nghĩa nhìn vào sách hay văn bản để đọc.

 

[2] Đáng lẽ thầy Chương phải dùng từ “bội” tức đọc thuộc lòng. “Độc” và “bội” là hai từ có cách đọc, cách viết và ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.

 

Bến xe 2.3

Sắc mặt thầy Chương vẫn vô cảm. “Tôi sẽ thử xem sao.” Câu nói của thầy khiến dưới lớp nổi lên những tiếng bàn luận. Nhưng thầy nhanh chóng cất tiếng: “Bản thân là con cháu đích tôn, vì vậy chưa đến mười một tuổi, tôi đã được nghe nhắc đến chuyện chọn vợ…”

Thầy Chương đọc hết câu này đến câu khác. Thầy vẫn ngẩng cao đầu, chắp hai tay sau lưng, bộ dạng thong dong, từ tốn. Liễu Địch vô cùng kinh ngạc. Cô ngẩng đầu, phát hiện các bạn đang thì thầm bàn tán. Chúng cũng ngạc nhiên như cô.

Trên thực tế, không ai có thể chứng thực tản văn thầy Chương đang đọc thuộc lòng rốt cuộc có phải là Truyện ký chọn bạn đời hay không.

“Thưa thầy!” Một giọng nói vang lên cắt ngang lời thầy Chương. “Thầy có thể đọc Jane Eyre, tác phẩm tiêu biểu của Charlotte Brontë[1] không ạ?” Cậu nam sinh vừa lên tiếng nhanh chóng rút quyển sách từ cặp sách ra, đó chính là quyển Jane Eyre.

“Chương mấy?” Thầy Chương tựa hồ không nhìn thấy hành động mang tính chất sỉ nhục đó.

“Chương một ạ!”

“Ngày hôm đó vốn không thể đi tản bộ. Không sai, buổi sáng chúng tôi đã dạo một tiếng đồng hồ trong rừng cây trụi lá…”

“Chương ba.”

“Trong ký ức của tôi, sự việc tiếp theo là tôi cảm thấy giống như tỉnh dậy sau một cơn ác mộng kinh hoàng…”

“Chương mười.”

“Cho đến bây giờ, tôi đã ghi chép tường tận một số chuyện nhỏ nhặt không đáng kể trong cuộc sống…”

“Chương hai mươi lăm.”

“Một tháng sau khi tỏ tình, mấy tiếng cuối cùng có thể đếm được trên đầu ngón tay…”

“Chương ba mươi mốt.”

“Cuối cùng tôi cũng tìm thấy nhà…”

Vẻ kinh ngạc của cậu nam sinh đã nói cho cả lớp biết thầy Chương đọc không sai một chữ.

“Chương ba mươi sáu.” Cậu nam sinh không chịu khuất phục, lại lên tiếng. “Thưa thầy, xin thầy hãy đọc câu tiếp sau câu này: “Là một nỗi đau khổ như thế nào mà người này tựa hồ hạ quyết tâm trì hoãn?”

Tay phải của thầy Chương đột nhiên cuộn lại thành nắm đấm, người thầy hơi lảo đảo. Thầy im lặng hồi lâu. Liễu Địch nhìn thấy giọt mồ hôi trên trán thầy.

Các bạn trầm mặc, trao đổi ánh mắt đắc ý và vui vẻ của kẻ chiến thắng. Liễu Địch thở dài. Không hiểu sao nhìn những gương mặt cười cợt trên nỗi đau của người khác, trong lòng cô hơi khó chịu.

Cuối cùng, thầy Chương cũng lên tiếng, thầy đọc câu tiếp theo bằng ngữ điệu có phần đau đớn: “Hai mắt ông đã bị mù. Đúng vậy, Edward Rochester đã hoàn toàn trở thành người mù…”

Cậu nam sinh buông quyển sách, lặng lẽ tuyên bố sự thất bại của mình. Các bạn khác như bùng phát lòng hiếu kỳ, nhanh nhảu nêu tên một loạt tác phẩm nổi tiếng chợt xuất hiện trong đầu, dù một số tác phẩm, bọn họ cùng lắm chỉ biết tên:

Anna Karenina.”

Hồng lâu mộng.”

Phục sinh.”

Hoàng Hà chảy về phía đông.”

Ông già và biển cả.”[2]

Cho đến khi không còn ai đứng dậy đề nghị thầy Chương đọc thuộc tác phẩm nữa, cuộc khảo vấn mới kết thúc. Cả lớp không ai thắng được người thầy đang lặng lẽ đứng trên bục giảng kia.

Cả lớp cuối cùng cũng bị chinh phục hoàn toàn. Vẻ bất mãn, ngông cuồng và thách thức trên mặt chúng hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự khâm phục và sùng bái. Lần đầu tiên trong đời, chúng biết thế nào là “sự uyên bác”, là cảm giác nhỏ bé và bi ai của con ếch ngồi dưới đáy giếng ngước nhìn bầu trời bao la.

Về phần Liễu Địch, cô biết thế nào là “thiên tài” thực sự.


[1] Charlotte Brontë (1816-1855): nữ nhà văn người Anh, tác giả của những tiểu thuyết được xếp vào hàng kinh điển của văn học Anh.

 

[2] Anna Karenina, Phục sinh: hai tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Nga Lev Tolsoy. Hồng lâu mộng: tiểu thuyết nổi tiếng của Tào Tuyết Cần, Trung Quốc. Ông già và biển cả: tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Mỹ Ernest Hemingway. Hoàng Hà chảy về đông: tiểu thuyết của Lý Oa.