Trăng sáng cố hương – Lại Nhĩ [Chương 2.1]

Chương 2

 Ân cừu

Mặt trời mọc, mặt trăng tà, ánh nắng mai, hơi sương nhẹ, những giọt giá băng treo trên góc mái lầu thành, phát sáng long lanh, nhưng lại như những mũi dùi lạnh buốt, nhỏ những giọt lệ tí tách. Quân lính canh phòng đêm vừa ngáp dài vừa đẩy cánh cổng với bản lề to nặng. Chỉ nghe một tiếng trầm đục vang lên, cánh cổng thành tán đinh đồng vừa dày vừa nặng được mở ra, để lộ bóng dáng hai đứa bé một lớn, một nhỏ.

Ánh nắng mai chiếu vào làm bóng chúng đổ thật dài trên mặt đất. Chỉ thấy đứa nhỏ là một cô bé ăn mặc mỏng manh, đang dùng vóc dáng nhỏ bé của mình vừa vác vừa kéo một thiếu niên toàn thân đầy máu. Còn thiếu niên thì dường như đã ngất đi nhiều giờ, không động đậy gì cả. Đứa bé gái bước những bước ngắn, cố hết sức kéo lê thiếu niên có lẽ phải cao gấp đôi mình, để lại trên tuyết một vệt hằn sâu.

Cảnh tượng ấy khiến người ta thấy vừa kinh ngạc vừa buồn cười. Người giữ cổng thành tròn mắt há miệng dõi theo đứa bé còn chưa lớn ấy, nhìn nó khó nhọc tiến về phía trước, vừa đi vừa nói chuyện, cũng không biết là nói cho cậu thiếu niên đang ngất kia nghe, hay là nói để cổ vũ cho chính mình: “Cố lên! Sắp vào đến trong thành rồi, sắp gặp được đại phu rồi! Hằng ca, huynh chớ ngủ, sắp gặp được đại phu rồi!”

Giọng trẻ con mềm mại, lặp đi lặp lại mãi câu “đến rồi, đến rồi”. Hơi thở nóng hổi của cô bé phả ra bên khóe miệng, trong buổi sáng mùa đông, chớp mắt tiêu tan không còn thấy đâu nữa.

Người canh cửa nhìn kỹ, thấy thiếu niên buông thõng một tay, còn chỗ đáng ra là tay phải thì ngắn cũn, chỉ còn lại một cuộn vải thấm máu được buộc chặt. Người canh cửa kinh hãi, hoảng hốt chạy tới, hỏi: “Tiểu cô nương, có cần ta giúp mời đại phu không?”

Cô bé ngước mắt lên nhìn, thấy người ấy mặc quân trang, bên lưng lại đeo đại đao sáng loáng, thế là đôi mắt to đen láy vụt sa sầm xuống. Cô tựa như không nghe thấy câu hỏi của người lính, vẫn kiên trì dứt khoát, đỡ thiếu niên trên lưng bước từng bước một vào trong cửa thành.

Người lính giữ cửa tuy có lòng muốn tương trợ, nhưng quân lệnh như sơn, sao có thể bỏ nhiệm vụ được. Trong buổi sáng mới vừa gà gáy ấy, y mang một mối nghi hoặc dõi theo bóng đứa nhỏ, nhìn nó đi dần từng bước vào trong thành, cuối cùng biến mất khỏi tầm nhìn.

Đó đã là ngày thứ ba họ rời khỏi Kỳ Sơn. Ban đầu, Khương Hằng còn cố gắng đứng thẳng, dắt theo Vân Hy, đi xuống dưới núi. Nhưng chưa cần nói đến đường núi khó đi, giờ đây tuyết phủ kín núi thế này, đến một quả rừng nhét tạm vào bụng cũng không có. Hai đứa nhỏ vừa khát vừa đói, cứ tiện tay bốc một vốc tuyết bên đường nhét bừa vào miệng. Đáng thương cho đôi tay nhỏ bé của Vân Hy, cóng buốt đến đỏ tấy.

Trong khi họ lấy tuyết ăn, ngẫu nhiên có mấy con sẻ nhỏ bay qua rừng, Khương Hằng lấy thương đâm, cùng chia nhau ăn với Vân Hy. Cầm cự như vậy được hai ngày, thiếu niên bị sốt cao không ngớt, cuối cùng không cự nổi cơn bệnh. Từ khi Khương Hằng quỵ ngã, đôi vai nhỏ bé của Vân Hy liền trở thành chỗ dựa duy nhất của thiếu niên. Cô bé mới chỉ tám tuổi ấy đã cố gắng vừa đỡ vừa kéo thiếu niên cao lớn gấp đôi mình, đi một ngày một đêm, chưa từng dừng nghỉ một chút nào.

Những ngày ở trên Kỳ Sơn, Vân Hy không thể học võ, đành theo cha học thuộc mấy cuốn Tam tự kinh, Bách gia tính[1], cho nên tuy cô còn nhỏ tuổi, nhưng đã biết không ít chữ Hán. Từ xa trông thấy trên lá cờ phướn có một chữ “Y” lớn, Vân Hy lộ rõ vẻ vui mừng, bước đi vội hơn, khó khăn lắm mới kéo được Khương Hằng đến chỗ đó. Cô để thiếu niên ngồi dựa vào tường, rồi đưa cánh tay nhỏ bé lên, cố sức đập cửa gọi: “Mở cửa! Đại phu, mở cửa!”

Gọi liền mấy câu, phía trong cuối cùng cũng có động tĩnh. Chỉ thấy khe cửa hé ra một chút, để lộ khuôn mặt vẫn còn ngái ngủ.

Đó là một đại phu trung niên, ông ta mắt nhắm mắt mở, ghé ra ngoài cửa nhìn hồi lâu, nhưng chẳng thấy người nào cả. Ông ta vừa lẩm bẩm một câu: “Ma trêu à?”, thì nghe thấy một giọng trẻ nhỏ yếu ớt: “Đại phu, nhìn xuống dưới này, ở đây ạ!”

Đại phu nhìn xuống chỗ có tiếng nói, chỉ thấy một cô bé thấp nhỏ, đang lo lắng chỉ vào thiếu niên bên tường, sốt ruột nói: “Đại phu, xin ngài hãy cứu Hằng ca!”

Trông thấy bệnh tình của thiếu niên đang hôn mê vì mất cánh tay, đại phu lập tức tỉnh hẳn ngủ. Ông vội vàng mở cửa, chạy đến bên cạnh thiếu niên, bế ngang người cậu vào trong y quán. Vân Hy vội vã theo sau, đôi mắt mở to, nhìn đại phu bận rộn rối rít. Đại phu để Khương Hằng nằm lên phản gỗ, rồi lấy bộ kim châm bạc châm vào huyệt đạo trên trán cậu, lại quay người lấy mấy vị thuốc bỏ vào ấm thuốc nổi lửa đun.

Lát sau trong hương thuốc đã bốc lên, Khương Hằng dần dần tỉnh lại. Cậu còn chưa mở mắt, trước tiên đã co cánh tay trái còn lại về. Khi phát hiện trong bàn tay mình không có gì, cậu bỗng nhiên mở bừng mắt, gọi to: “Vân Hy”, rồi vùng ngồi dậy.

“Muội ở đây!” Cô bé lập tức chạy tới, đôi tay bé nhỏ ôm chặt lấy cánh tay còn lại của Khương Hằng. Thấy cô vẫn bình an vô sự, Khương Hằng mới an tâm, khi ấy khí lực đã cạn, cậu lại nằm vật xuống phản.

“Ồ, tiểu tử ngươi đúng là lớn mạng đấy.” Vị đại phu cười nói, lại định châm thêm một mũi ngân châm vào trán Khương Hằng.

“Hãy khoan!” Khương Hằng cất tiếng ngăn lại, đôi mắt phượng nhỏ dài của cậu chằm chằm nhìn vị đại phu, giọng nói vẫn còn yếu ớt. “Trước tiên xin đa tạ đại phu đã ra tay cứu giúp, nhưng thực không dám giấu, trên người chúng tôi không có một đồng, sẽ không trả nổi tiền chạy chữa, xin được từ biệt đại phu ở đây vậy.”

Nói rồi, Khương Hằng liền chống tay trái, cố gắng nâng mình ngồi dậy, định nhảy xuống khỏi giường bệnh. Nhưng động tác của cậu mới làm được một nửa thì đã bị đại phu giữ chặt lấy vai, ấn nằm xuống phản. Vị đại phu trung niên nở nụ cười nói: “Tiểu tử ngươi nghe ta nói đây, cái tính khí vớ vẩn ấy của ngươi còn lớn hơn cái mạng ngươi đấy nhỉ!”

[1] Những cuốn sách vỡ lòng cho trẻ con Trung Quốc nhận mặt chữ thời cổ.

 

Advertisements