Trăng sáng cố hương – Lại Nhĩ [Chương 1.9]

Đám đệ tử Tùy gia thương xông lên trước, bị loạn đao của quân lính đâm chém, xương tan thịt nát, máu đổ thịt văng, nhuộm đỏ cả mặt đất.

Tùy Đồng Phủ tay cầm thương bạc, như tắm trong máu, mái tóc hoa râm đã nhuộm đỏ máu của mình cũng như kẻ địch. Ông quét một đường thương, dồn hết nội lực toàn thân, đánh một đòn chí mạng về phía Triệu Hãn, đó là đòn đánh mà cả hai sẽ cùng phải chết!

Triệu Hãn há lại không nhận ra chiêu liều mạng của đối phương? Lúc này hắn cũng không cố liều, tiện tay túm lấy một đệ tử của Tùy gia dùng làm lá chắn, chặn trước người mình. Tùy Đồng Phủ vội vàng thu chiêu, xoay người tránh đi. Nhân khi chiêu thức của Tùy Đồng Phủ bị phá, Triệu Hãn đưa tay tung ra một chưởng, kình khí mạnh mẽ đánh vào vị trưởng giả khiến ông bay văng ra. Tùy Đồng Phủ đập mạnh vào bức tường cao, vết thương trên lưng in hằn một vệt máu nổi bật trên bức tường trắng.

Triệu Hãn tiện tay nhặt một cây trường thương, đâm xuyên cổ họng một đệ tử Tùy gia đang xông tới. Chỉ thấy đầu mũi thương đâm rách da thịt, trên những sợi tua đỏ máu tươi nhỏ giọt tong tong. Triệu Hãn tùy ý rút thương lại, để thi thể đổ gục xuống một bên, rồi lập tức chạy lại phía Tùy Đồng Phủ. Hắn cười nhạt đâm cây thương bạc trong tay, chỉ nghe xương thịt vang lên một tiếng trầm đục, cây trường thương đã đâm xuyên xương đòn ông, đóng đinh chặt ông vào bức tường!

“Hàng hay không hàng?”

Tùy Đồng Phủ hơi hé miệng, máu tươi liền từ bên khóe miệng trào ra, ông khạc máu nói: “Thương có thể gãy, người có thể chết, cơ nghiệp trăm năm của Tùy gia thương, đạo nghĩa võ nhân của Tùy gia thì tuyệt không thể chấm dứt ở đây. Hôm nay không thể, ngày mai không thể, Tùy gia vĩnh viễn không bao giờ mất!”

“Hủ lậu.” Triệu Hãn lạnh lùng “hừ” một tiếng, không nói nhiều thêm, cầm trường thương đâm thẳng vào tim Tùy Đồng Phủ.

Chưởng môn nhân bị ghim trên tường cao, gục đầu xuống, không còn động đậy gì nữa. Triệu Hãn quay người, chỉ thấy tòa đình viện trên lưng núi đã trở thành chốn địa ngục tu la, thây chất đầy đất, máu chảy thành sông, đệ tử Tùy gia thương chỉ còn lại mấy tên sợ chết, đang run rẩy quỳ dưới đất.

Trong số đó có một tên quay về phía Triệu Hãn khấu đầu, nói vẻ thành khẩn: “Khởi bẩm đại nhân, chưởng môn sư bá còn có một cô con gái duy nhất, là truyền nhân của Tùy gia, khi nãy có lẽ đã nhân loạn trốn chạy rồi.”

Triệu Hãn nhướng mày, rút cây roi ngựa bên lưng ra, bước đến trước mặt kẻ đang khấu đầu, bỗng vung cây roi quấn chặt lấy cổ tên đệ tử ấy, giật mạnh một cái. Chỉ nghe một tiếng “rắc” vang lên, sống cổ kẻ đó lập tức bị cây roi bẻ gãy. Triệu Hãn đưa chân đá cái xác đổ gục bên chân mình ra, lạnh lùng nói: “So với những kẻ ngu si hủ lậu, bản tọa còn ghét những kẻ tiểu nhân bất trung hơn. Giết hết bọn chúng cho ta!”

Chỉ nghe mấy tiếng kêu thê thảm, ánh đao lóe lên dưới trăng, thủ cấp và máu tươi theo nhau rơi xuống nền tuyết.

Đám quân lính đốt đuốc lên, theo Triệu Hãn dẫn đầu, chạy ra núi sau truy tìm. Khoảng sân tập võ trước sơn môn dần dần trở về sự tĩnh lặng như thường.

Đầy trời tuyết rơi, phiêu diêu lặng lẽ, rơi xuống mái tóc và chòm râu đốm bạc của Tùy Đồng Phủ, rơi xuống túm tua đỏ của cây thương bạc, rơi xuống những thi thể tàn khuyết bừa bãi khắp mặt đất.

Gió Kỳ Sơn tựa như đang đau thương vì chuyện này. Tuyết Kỳ Sơn tựa như cũng không đành lòng nhìn thảm kịch trước mắt, cứ nhẹ nhàng rơi xuống, lặng im vùi lấp đi những dòng máu đỏ chảy tràn khắp đất, vùi lấp đi đôi phu thê đến chết cũng không rời.

 

Vó sắt tung cao, mộng tưởng thái bình giẫm nát.

Kỳ Sơn tuyết phủ, hồn trung nghĩa sĩ chôn vùi.

Rất nhiều năm sau, mỗi khi Khương Hằng nhớ lại chuyện tối ấy ở Kỳ Sơn, một màn sương máu đầy trời lại hiện lên trước mắt. Khi ấy y mới mười ba tuổi, nếu không phải là vì câu dặn dò của mẫu thân thì nhất định sẽ liều mạng với Triệu Hãn, Tôn Bồi Nguyên ngay tại chỗ, và cũng giống như ba mươi bảy nhân mạng từ trên xuống dưới của Tùy gia thương, kết thúc cuộc đời mình trong đêm tuyết rơi ở Kỳ Sơn ấy.

Nhưng mẫu thân đã căn dặn một câu rằng: “Bảo vệ Vân Hy!”, khiến Khương Hằng dù chính mắt trông thấy cảnh tượng thê thảm khi cả cha lẫn mẹ đều qua đời, vẫn cố liều mạng chạy trốn khỏi nơi ấy. Vì một câu nói của mẫu thân, vì một lời hứa với mẫu thân, trong những ngày dài đêm thâu sau đó, y chẳng ngại chặt đứt tay mình, chẳng ngại chịu đủ sự lăng nhục, chẳng ngại chuyện sống không bằng chết, trong lòng vẫn có một niềm tin: Phải sống! Vì Vân Hy, phải sống!

Đến nhiều năm sau, Khương Hằng mới dần dần hiểu ra, câu nói của mẫu thân hôm ấy không chỉ là để bảo vệ Vân Hy nhỏ bé, mà chủ yếu là để bảo vệ cho chính y – một thiếu niên khí huyết đang hăng. Dựa vào niềm tin đó, gã thiếu niên ấy mới giữ được mạng sống của mình mà thoát đi, mới có động lực để sinh tồn. Và niềm tin ấy đã trở thành một lá bùa hộ mệnh giúp cho y vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ.

Nhưng trong đêm đông tuyết bay đầy trời, cậu thiếu niên Khương Hằng vẫn chưa ngộ ra đạo lý này. Cậu chỉ biết dắt cô bé con Vân Hy – giọt máu duy nhất còn lại của Tùy gia, chạy thục mạng trong tiết trời lạnh buốt.

Khi hai đứa bé bị quan binh bắt được, cậu thiếu niên đã lập tức che chở cho cô bé sau lưng. Tôn Bồi Nguyên biết rõ thân phận của hai người, nhưng vì lòng hối hận và sự hổ thẹn, đã nói dối rằng Khương Hằng chỉ là một người làm công không biết võ nghệ, cầu xin Triệu Hãn cho hai đứa nhỏ một con đường sống. Nhưng Triệu Hãn đâu có dễ bị lừa phỉnh như vậy, đã ra lệnh cho thuộc hạ đày Khương Hằng ra ngoài biên ải.

Giây phút khi thiếu niên Khương Hằng bị quan binh đánh, cô bé Vân Hy đã ôm lấy chân tên lính mà khóc, dùng răng cắn để cản bước hắn, nhưng đã bị hắn kéo lê trên tuyết.

Khương Hằng cúi xuống nhìn cô bé chỉ mặc manh áo đơn, đó là muội muội Vân Hy cùng cậu lớn lên từ nhỏ, vẫn thường bị cậu gọi là “đồ ngốc” ấy. Sau giây lát, trong đầu cậu thiếu niên bỗng hiện lên một câu hỏi thay vì nghĩ về mạng sống của mình: Nếu như mình chết rồi, nếu như mình bị đầy ra ngoài biên ải, nha đầu ngốc này sẽ ra sao? Há chẳng phải sẽ chết cóng trên Kỳ Sơn này ư?

Bắt đầu từ đó, Khương Hằng biết rằng, mạng sống của mình đã không còn là của một mình mình nữa.

Trong lòng đã có đáp án, cậu thiếu niên liền đưa ra quyết định, tay trái rút lấy thanh đại đao ở bên lưng tên lính, vung một nhát chặt đứt tay phải của mình!

Bàn tay đã hơi có vết chai do luyện võ, lẻ loi rơi xuống tuyết. Khương Hằng đau tưởng ngất đi, nhưng cậu cắn chặt hàm răng, không để cho tiếng kêu đau thốt ra ngoài miệng. Mồ hôi túa ra ướt đầm mái tóc, cậu dùng tay trái ôm chặt lấy cánh tay phải tàn phế của mình, nhưng không ngăn được máu tuôn ra. Cậu gắng hết sức bình sinh mới run rẩy nói được một câu: “Ta không biết võ công, giờ đây lại là kẻ tàn phế mất tay, còn nói gì đến chuyện múa đao đánh thương. Ông đã tin rồi chứ?”

Cô bé Vân Hy quỳ bên cạnh cậu, bị cảnh tượng ấy làm cho sợ hãi bủn rủn toàn thân, đến khóc cũng không khóc nổi, chỉ biết run rẩy đưa tay ra, sờ nắn cánh tay đứt lìa vẫn còn hơi ấm của Khương Hằng. Giữa những kẽ ngón tay nhỏ bé, máu tươi không ngừng tuôn ra, sau khi kinh sợ hồi lâu, cuối cùng cô bật khóc to, tiếng khóc bị gió bấc thổi làm cho đứt đoạn vỡ vụn.

“Triệu Thống lĩnh!” Tôn Bồi Nguyên như nghẹn ngào, quỳ xuống trước mặt Triệu Hãn, khẩn cầu: “Tại hạ xin làm chứng, hai đứa bé này đều không biết võ công, xin ngài hãy tha cho chúng!”

Tôn Bồi Nguyên ra sức kêu xin, Triệu Hãn cuối cùng cũng đã lui binh. Trên núi Kỳ Sơn, trong ngày đông giá tháng Chạp ấy, chỉ còn lại hai đứa trẻ dắt díu nhau, hứa hẹn không bỏ rơi nhau.

“Nha đầu ngốc, ta đã hứa với mẹ rồi, quyết không bỏ rơi muội.”

“Muội, Tùy Vân Hy muội, cũng sẽ không bỏ rơi huynh đâu!”

Cô bé lớn tiếng hứa hẹn, xé mảnh vạt áo quấn thật chặt cánh tay bị chặt đứt máu chảy mãi không thôi của thiếu niên. Còn Khương Hằng đã yếu đi, khó khăn lắm mới cố gượng đứng dậy được, dùng cánh tay trái còn lại đeo cây thương bạc lên lưng, rồi lại giữ chặt lấy Vân Hy.

Tuyết rơi lả tả, trời đất im lìm.

Trong đêm tuyết rơi buốt giá cả đất trời ấy, họ nắm chặt lấy tay nhau, đó là cách duy nhất để hai người có thể giữ ấm.

Chính hơi ấm nhỏ nhoi như một vì sao lẻ loi ấy đã giúp sức cho cậu thiếu niên mất nhiều máu, giúp sức cho cô bé không biết nương tựa vào đâu, để họ đi qua hết ngày này sang đêm khác, vượt qua từng cơn nóng lạnh tưởng khó có thể vượt qua.

Phải sống! Vì nhau, phải sống!

Hy vọng sinh tồn tựa như một chuỗi dài những đốm lửa nhỏ, lại tựa như chùm tua đỏ trên mũi thương bạc sau lưng thiếu niên, trong gió bấc sàn sạt thổi, dưới ánh trăng càng trở nên hồng tươi đẹp đẽ hơn.

Bi thương và khổ nạn, thì đã theo cánh tay bị chặt đứt kia, dần dần bị từng bông tuyết che phủ, cùng với vệt máu ngoằn ngoèo, chìm vào trong tuyết trắng mênh mang, biến mất trong đêm đen vô tận.

Nhưng mầm mống hận thù, lại bắt đầu từ giờ khắc ấy, nảy mầm bén rễ sâu trong trái tim thiếu niên, đao không thể cắt, kiếm không thể bạt, vĩnh viễn không tan.

 

Advertisements