Trăng sáng cố hương – Lại Nhĩ [Chương 1.7]

Khương Tử Dã nói lớn. “Nhưng hành hiệp trượng nghĩa, trừ mạnh giúp yếu, lại phải báo cáo, lại phải được bộ Binh này, bộ Hình kia cho phép, thì còn là võ nhân gì? Có khác nào một con chó săn của triều đình? Lại còn không được mang theo binh khí, rõ là buồn cười! Khương Tử Dã ta học Tùy gia thương, thương còn người còn, thương gãy người chết!”

Lời còn chưa dứt, Khương Tử Dã đã vòng tay ra sau rút cây thương bạc trên lưng, cầm cán thương giội mạnh xuống đất. Chỉ nghe “choang” một tiếng, Khương Tử Dã chống thương đứng dậy, sống lưng thẳng tắp, hệt như cán thương!

Thấy ông lôi thương ra, Triệu Thống lĩnh cười nhạt nói: “Nói như vậy là Tùy gia thương các ngươi từ chối không ký điều ước đúng không?”

“Thái Bình Ước gì chứ, coi võ nhân chúng ta là thứ tượng đất cho các ngươi muốn vê muốn nặn thế nào tùy ý ư?” Khương Tử Dã giận dữ nói.

Thấy sư đệ nổi giận, Tùy Đồng Phủ đưa tay ngăn lại, quay sang Triệu Thống lĩnh chắp tay, trầm giọng nói: “Thống lĩnh đại nhân, đã là Thánh dụ thì Tùy mỗ không dám bình luận bừa thêm về Thái Bình Ước nữa. Nhưng tờ công văn này lại có liên can đến thương pháp mà tổ tiên Tùy gia truyền lại, liên can đến cơ nghiệp trăm năm của Tùy gia thương. Nếu có một ngày hiềm khích giữa các môn phái được xóa bỏ, võ học trong thiên hạ được hội hợp giao hòa, thì đó đúng là một việc may mắn cho võ lâm. Nhưng hôm nay, Tùy mỗ không thể để danh hiệu Tùy gia thương bị xóa sổ trong tay mình được.”

“Ồ, ý ngươi là sẽ không ký chứ gì?”

Trước câu hỏi của Triệu Hãn, Tùy Đồng Phủ lại chắp tay, nói từng tiếng một: “Không – thể – ký!”

“Được lắm!” Triệu Thống lĩnh hét to một tiếng, cây roi ngựa trong tay vút ra. Chỉ nghe một tiếng xé gió, đường roi sắc lẹm nhắm thẳng Tùy Đồng Phủ đánh tới.

Thấy sư huynh bị đánh, Khương Tử Dã đang cầm cây thương bạc lập tức nhún chân nhảy ra, vung thương chặn ngay đòn đánh của Triệu Hãn! Hai người kình lực va nhau, không ai chịu ai.

Triệu Hãn tuy là quan viên, nhưng cũng là thống lĩnh cấm vệ quân, luận về thân thủ đáng được coi là cao thủ nhất đẳng trên giang hồ. Chỉ thấy hắn múa cây roi ngựa kín đến gió không lọt, kình khí tập trung như chia trời rạch biển, bổ thẳng xuống đầu. Khương Tử Dã vội lùi mấy bước, tìm chỗ thủ thế, đợi đúng khoảnh khắc cây roi dài sắp vụt tới người mình liền tung ngay một chiêu Lâm Sơn Cổ Chiếu, đầu mũi thương bạc lấp loáng lóe sáng, dũng mãnh tựa chim hồng, nhằm thẳng mặt Triệu Hãn đâm tới.

Triệu Hãn lạnh lùng “hừ” một tiếng, xoay lòng bàn tay, kình khí dồn vào cây roi chớp mắt lưu chuyển, cây roi ngựa lập tức như một con linh xà, bỗng đâu quấn chặt cây thương bạc, lực mạnh đến nỗi làm chấn động hổ khẩu[1] của Khương Tử Dã. Sau giây lát, Triệu Hãn xoay cổ tay, cây roi tựa như con rắn liền giật cây thương bạc tuột khỏi tay Khương Tử Dã văng ra xa.

Chỉ thấy sáng lóe như ánh chớp, cây trường thương sáng bạc liền bay ra khỏi sảnh đường, cắm ngập vào mặt đất phủ đầy tuyết ngoài cửa, rung rinh hồi lâu, tiếng “choang” ngân mãi không dứt.

Cùng lúc ấy, gần trăm quân lính bên ngoài sơn môn đột nhiên phá cửa xông vào, chớp mắt đã vây kín quanh sân Tùy gia đến một giọt nước cũng không lọt. Chẳng bao lâu sau, tất cả đệ tử Tùy gia thương bị đuổi về phòng lúc trước đều bị quan binh trói hai tay, dẫn tới nơi, đến đàn bà con trẻ cũng không tha. Vân Hy được bà Khương ôm trong lòng, đôi mắt to đen láy, nghi hoặc nhìn những vị khách không mời mà đến.

Thống lĩnh Triệu Hãn không thèm nhìn lại hai người Tùy Đồng Phủ và Khương Tử Dã, chắp tay sau lưng đi ra ngoài sảnh đường, đứng yên trên sân tuyết. Hắn đưa mắt nhìn một lượt đám đệ tử của Tùy gia thương đang bị trói, lại đưa tay sờ lên cây thương bạc cắm sâu dưới đất, lạnh lùng bảo: “Một là đắc đạo, hai là thành ma, ta cho các ngươi một cơ hội cuối cùng, Thái Bình Ước các ngươi có ký hay không?”

“Ký! Ký!”

Không đợi hai người Tùy, Khương lên tiếng, Tôn Bồi Nguyên đã vội vã cất lời. Ông ta kéo tay áo Khương Tử Dã, nói vội: “Khương huynh, chớ nên cố chấp như vậy! Nếu như từ chối ký Thái Bình Ước, nhẹ sẽ bị đày ra biên ải, nặng thì bị trừng trị theo vương pháp! Đây vốn là một chuyện rất tốt, sao huynh lại không nghĩ thoáng được một chút?”

“Hừ! Chuyện tốt?” Khương Tử Dã cười khẩy. “Nếu là chuyện tốt, sao phải dùng tính mạng của đệ tử ta để ép buộc? Nếu là chuyện tốt, sao đến cả đàn bà trẻ con cũng không tha? Khen cho Thái Bình Ước, thái bình mà thế này, chúng ta không nhận nổi!”

“Giỏi, giỏi lắm!” Triệu Hãn buông tay khỏi thương bạc, quay sang cầm cây roi ngựa bên hông. “Nếu như các ngươi rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt thì ta cũng không khách sáo.”

Nói xong, Triệu Hãn vung cây roi dài, dồn hết mười thành công lực, chỉ nghe một tiếng vang chói tai, cây roi đánh thẳng vào cây thương bạc đang cắm sâu trong sân tuyết.

Một tiếng “choang” vang lên, cây thương thẳng tắp chớp mắt gãy làm đôi, rơi xuống lớp tuyết dày.

“Khen cho câu “thương còn người còn, thương gãy người chết”.” Triệu Hãn khiêu khích, quay sang nhìn Khương Tử Dã mặt mũi tái nhợt, cười nhạt nói tiếp: “Ngươi chí ít cũng là thầy của người khác, không đến nỗi trước mặt bao nhiêu đệ tử thế này mà lại nuốt lời đấy chứ?”

[1] Chỉ khoảng mở giữa ngón tay cái và bàn tay.

 

MƯỜI NĂM THƯƠNG NHỚ [Chương 5.1]

Chương 5

Hoa đào lưa thưa trong mộng hoa đào

Thu sang, tiết trời mỗi ngày một lạnh, mặc dù bà Uẩn đã mua cho A Hoành khá nhiều quần áo, nhưng ông cụ Ôn chưa thấy cô mặc lần nào, trong lòng cũng có nhiều thắc mắc.

“A Hoành, sao cháu vẫn mặc đồng phục vậy?” Ông cụ cau đôi mày rậm, nhìn cô cháu gái.

“Trường mới phát ông ạ, cháu rất thích.” A Hoành lắp bắp, lí nhí đáp.

“Hiện cháu đang ở nhà họ Ôn, không phải nhà họ Vân.” Đầu mày ông cụ mỗi lúc một cau chặt hơn, ông bắt đầu tỏ ra bực bội.

Con bé này đối đầu với họ theo cách này ư? Con gái nhà họ Ôn, đã mang họ Ôn rồi thì có bao giờ bị đối xử tệ bạc đâu? Tại sao nó lại tự hành hạ mình như thế chứ!

A Hoành túm chặt gấu áo, cúi đầu đáp: “Dạ vâng ạ.”

Nghe giọng nói đặc sệt chất Giang Nam của cô bé, ông cụ mới giật mình vì đã quá lời, nghĩ lại bao chuyện xảy ra trong quá khứ, lại cảm thấy áy náy. “Nếu cháu thích mặc đồng phục thì cứ mặc.” Rồi ông cụ thở dài, hỏi tiếp: “Có điều mặc có ấm không?”

“Ấm lắm ông ạ.” A Hoành vội đáp lời bằng chất giọng của vùng sông nước Ô Thủy, rồi lại ngượng ngùng nhắc lại bằng tiếng phổ thông lơ lớ của mình, bàn tay lật nhẹ sang lớp lót của chiếc áo khoác, nhìn có vẻ khá dày dặn.

“Ấm là được rồi.” Đầu mày ông cụ dãn ra, ánh mắt vốn sắc như dao cũng ấm áp trở lại. “Ông nghe hiểu tiếng Ô Thủy, cháu không phải đổi giọng đâu.”

A Hoành vô cùng sửng sốt, rồi lập tức nở nụ cười, ánh mắt rạng ngời, ấm áp.

“Năm mười tám tuổi, ông có đóng quân ở Ô Thủy mấy tháng.” Giọng ông cụ không còn nghiêm nghị như ngày thường mà nhẹ nhàng hơn rất nhiều, ông nhìn A Hoành, ánh mắt nghiêm nghị kia cũng trở nên trìu mến hơn.

“A Hoành, cháu có đôi mắt rất giống bà nội.”

 

Dần dần, A Hoành đã nhớ đường đi học nên cũng quen với việc đi bộ một mình hoặc đi xe buýt.

Nói ra cũng lạ, rõ ràng là cùng một gia đình mà trong ngày, A Hoành rất ít gặp Tư Hoán, chỉ khi ăn tối cô mới thấy mặt anh.

Mặc dù rất muốn nói chuyện với Tư Hoán nhưng nghĩ tới vốn tiếng phổ thông ngượng nghịu của mình, cô lại thôi.

Còn bà Uẩn thì luôn bận rộn với các buổi biểu diễn piano nên cũng rất ít gặp.

Ở lớp, A Hoành là người rất dễ tính, kể cả mọi người mỉa mai thẳng vào mặt, cô cũng chẳng bao giờ giận mà chỉ mỉm cười hiền lành. Dần dần, đối phương cũng thấy mất hứng, thôi không chế giễu cô nữa.

Một thời gian sau, mọi người phát hiện tính cách của A Hoành cũng khá hay. Ai không muốn trực nhật, chỉ cần gọi A Hoành một tiếng, câu trả lời có được luôn là: “Tớ biết rồi.” Sau đó, lớp học sẽ được quét dọn rất sạch sẽ, gọn gàng.

Trên thế gian này đáng sợ nhất là thói quen, và thói quen được hoan nghênh nhất là tiện lợi.

A Hoành chính là sự tiện lợi khủng khiếp được tạo ra từ thói quen này. Nếu là người khác, kể cả ông bụt cũng phải ức chế đến mức nổi trận lôi đình, nhưng A Hoành lại nghĩ, đôi khi thiệt thòi cũng là một cái phúc, hơn nữa những chuyện nhỏ nhặt này thực sự chẳng nhằm nhò gì.

Hôm nay, quét dọn lớp học xong xuôi thì trời đã tối, phải đợi nửa tiếng nữa mới có chuyến xe buýt cuối cùng. A Hoành quyết định sẽ đi bộ về nhà.

Cô đã quen đi dọc con ngõ nhỏ đó, ánh đèn đường màu vàng nhạt, khá tối nhưng lại tạo cho người ta một cảm giác ấm áp vô cùng.

Lúc tới cuối con ngõ nhỏ, A Hoành dừng chân lại. Cô nhìn thấy rõ hai bóng người đang quấn vào nhau trong một tư thế rất mờ ám.

Sáng, tối, da diết, say đắm và nóng bỏng.

Chàng trai đó mặc một chiếc áo len cổ thấp màu tím, trên bờ vai trái là một chùm hoa được móc bằng len đen, nét móc rất tinh tế, mềm mại, trải sang tận phía sau lưng, rực rỡ dưới bóng tối mờ ảo.