Trăng sáng cố hương – Lại Nhĩ [Chương 1.4]

“Huynh nói bừa, đâu phải muội học lén võ công! Cha muội là chưởng môn, sao muội lại không thể học võ công của ông!” Cô bé Vân Hy tức giận giậm chân.

Khương Hằng giơ ngón tay trỏ, ấn mạnh vào trán Vân Hy, nói bằng giọng châm chọc: “Đồ ngốc, đã nói bao nhiêu lần rồi, Tùy gia thương đã có lời tổ huấn, chỉ truyền cho nam, không truyền cho nữ. Có bản lĩnh thì muội đi tìm sư tổ dưới âm phủ mà cãi lý!”

Câu nói ấy khiến Vân Hy không nói được gì nữa, chỉ biết xoa xoa chỗ trán bị ngã đau, ấm ức nhìn chằm chằm vào thiếu niên hơn mình năm tuổi đang đứng trước mặt.

Tùy Vân Hy là con gái duy nhất của Tùy Đồng Phủ – chưởng môn Tùy gia thương, từ nhỏ sinh ra ở Kỳ Sơn, lớn lên ở Kỳ Sơn, đã quen với cảnh cha mình cùng các vị sư huynh luyện quyền, múa thương. Nhưng các sư huynh chưa bao giờ gọi cô một tiếng “sư muội”, bởi vì chỉ có duy nhất cô bé là không phải thành viên trong môn phái. Tùy gia thương chú trọng sự cương mãnh, vốn không phù hợp cho nữ nhi tập luyện, sư tổ lại có lời răn: “Chỉ truyền cho nam, không truyền cho nữ”, nên cho dù Tùy Đồng Phủ thân là chưởng môn cũng không thể vi phạm lời tổ huấn. Nhưng cô bé Vân Hy từ nhỏ đã nghe thấy nhiều nên rất hiếu kỳ và hứng thú với môn công phu này, cô cũng từng cầu xin phụ thân cho mình được học thương, nhưng phụ thân xưa nay luôn yêu chiều cô lại nghiêm mặt, lớn giọng ném ra hai từ: “Vớ vẩn!”

Cô bé Vân Hy không chịu thua, trèo lên cây nhìn trộm vào Diễn Võ đường, ghi nhớ các chiêu thức võ công rồi về phòng mình tập trộm. Nhưng có một lần, cũng vào một ngày đông lạnh lẽo thế này, cô trèo lên cây xem lâu quá, ngón tay bị lạnh cứng không thể động đậy, thành ra muốn trèo xuống cũng không được. Cô muốn gọi người cứu nhưng lại sợ cha biết chuyện sẽ trách mắng nên lo lắng đến phát khóc. Đúng lúc ấy Khương Hằng đi ngang qua, bị giọt lệ của cô rơi đúng vào mặt, sau khi châm chọc thỏa thuê những câu như: “Ngốc thì chết, không có bản lĩnh còn học người ta trèo cây”, “Muội cứ chết cóng trên cây đi, đó là báo ứng của việc muội học lén võ công đấy”…, cuối cùng mới bế cô xuống. Sau khi Vân Hy cầu xin hết lần này đến lần khác, Khương Hằng mới không nói chuyện này cho phụ thân mình là Khương Tử Dã – sư đệ của Tùy Đồng Phủ biết, đổi lại, cậu lại ra một điều kiện bất bình đẳng.

“Không nói cho cha ta và chưởng môn sư bá biết cũng được.” Khi ấy Khương Hằng khoanh tay vẻ dương dương tự đắc, nhướng mắt nhìn Vân Hy. “Nhưng muội phải đồng ý với ta một điều kiện.”

“Được, chỉ cần huynh không nói cho cha muội biết, điều kiện gì muội cũng bằng lòng!” Cô bé vội vàng đồng ý.

Nói thực lòng, Khương Hằng nhất thời cũng chưa nghĩ ra được cái gì có thể có lợi cho mình, nhưng nếu đường đường chính chính nói là vẫn chưa nghĩ ra thì thật mất mặt, cậu bèn cố làm ra vẻ thần bí nói: “Đức Phật có câu: “Bất khả thuyết”[1], khi nào thời cơ chín muồi, ta sẽ nói cho muội biết. Muội phải nhớ cho kỹ đấy, không được chối đâu!”

“Không chối, không chối, tuyệt đối không chối.” Cô bé vội giơ ngón tay út ra. “Ngoắc ngón tay ghi nhớ, Vân Hy tuyệt không nuốt lời.”

Ngón tay thiếu niên vì luyện võ nên đã hơi có vết chai, ngoắc vào ngón tay nhỏ mềm của cô bé, giật mạnh ba lần.

Trong tuổi thơ của mình, họ đã có một lời hứa hẹn nho nhỏ. Nhưng có nằm mơ họ cũng không ngờ được rằng, lời hứa hẹn nho nhỏ ấy lại là một sai lầm đáng tiếc trong suốt cuộc đời của họ.

Kết thúc cuộc đời, khi Tùy Vân Hy lưng đeo cây thương bạc, bước vào Diễn Võ đường thì người thiếu niên từng ngoắc tay ghi nhớ với cô khi xưa đã gần trong gang tấc mà cách nhau trời vực, càng ngày càng xa. Hai người không tiếc tính mạng để đổi lấy lời hứa của mình, trong giang hồ loạn thế mưa gió tơi bời này, đã làm nên một khúc bi ca hào sảng.

Nhưng lúc đó, trong ngày tháng Chạp tuyết bay đầy trời ấy, hai đứa trẻ bọn họ lại có thể chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt không đâu mà tranh cãi với nhau. Vân Hy kêu to: “Khương Hằng, huynh đợi đấy! Rồi có một ngày, muội sẽ đánh bại huynh!” Còn thiếu niên thì cúi người, thuận tay bốc nắm tuyết dưới chân, vo lại thành nắm tròn xoe rồi cười ranh mãnh, túm lấy cái áo bông màu đỏ của Vân Hy, nhét nắm tuyết vào sau cổ áo của cô bé.

“Ối!” Vân Hy bị lạnh buốt, kêu to mấy tiếng, đôi tay nhỏ vội vàng thò vào trong áo nhưng làm thế nào cũng không thể moi nắm tuyết ra được. Khương Hằng đắc ý cười ha hả, Vân Hy lập tức bốc tuyết lên trả thù. Cô bé ném về phía Khương Hằng hết nắm tuyết này đến nắm tuyết khác, nhưng cậu vẫn dễ dàng tránh được. Cuối cùng lại là cô bé áo đỏ cầm tuyết đuổi theo cậu thiếu niên áo lam cao gầy, ầm ĩ khắp đồng khắp núi. Chiếc áo đỏ như lửa, trên sườn núi Kỳ Sơn trắng xóa mênh mang, y hệt như một đốm lửa di động, vô cùng nổi bật, vô cùng bắt mắt.

Nhưng đến một ngày, những năm tháng vui tươi trên núi đã bị một tờ giấy lụa phá sạch.

Đó là một tờ công văn được gọi là “Thánh dụ”, trên đó viết ba chữ lớn: “Thái Bình Ước”.

Khi Tôn Bồi Nguyên – một văn sĩ trẻ đã thi đỗ tiến sĩ, làm quan huyện Bình Dao và cũng là bạn cũ của Khương Tử Dã, dẫn Thống lĩnh cấm vệ quân Triệu Hãn mang theo Thánh dụ lên Kỳ Sơn, muốn giải thích những cái hay của Thái Bình Ước cho bạn cũ, thì đúng vào thời gian đệ tử của Tùy gia thương đang ăn cơm tối.

Mặt trời chiều ngả về tây, tuyết bay lất phất, những bông tuyết dưới ánh nắng cuối ngày tạo thành một bức tranh khác lạ. Các đệ tử húp những bát cháo nghi ngút khói, bỏ thêm củ cải muối và thịt muối, vừa ăn vừa trò chuyện, không biết vì sao lại nói đến chuyện kế thừa ngôi vị chưởng môn.

“Sư phụ cũng thật là… Sư nương đã qua đời bao nhiêu năm rồi mà vẫn không chịu tục huyền.” Một đệ tử lắc đầu nói. “Sư phụ cũng không có huynh đệ, chỉ có một mình Vân Hy lại là con gái, e rằng sau này Tùy gia thương không có người kế thừa mất!”

“Ai nói chưởng môn sư bá không có huynh đệ? Sư phụ chúng ta không phải ư?” Một đệ tử theo học Khương Tử Dã nghe thấy thế thì không vui, lập tức vứt bát cháo, đập bàn nói. “Ai nói Tùy gia thương không có người kế thừa, luận về võ công thì sư phụ chúng ta cũng không kém gì chưởng môn sư bá!”

[1] Không nói được.

 

Advertisements

MƯỜI NĂM THƯƠNG NHỚ [Chương 4.2]

“Bà.” A Hoành đành chuyển sang nói tiếng phổ thông, tiếng “bà” nghe mới chân thành và ấm áp làm sao.

Bà Trương tiếp tục xào thịt gà, sau đó dừng tay trong giây lát rồi khẽ thở dài.

“Cái con nhỏ này, nếu hư hơn một chút thì có phải tốt không.” A Hoành không nói gì, chỉ khịt khịt mũi rồi cười.

Mỗi lần đến bữa tối, phòng ăn lại vô cùng yên tĩnh, ngay cả tiếng nhai cơm cũng không nghe thấy. A Hoành chậm rãi ăn từng miếng, mặc dù trong lòng thắc mắc nhưng từ nhỏ cô đã thích sự yên tĩnh nên cũng không thấy có gì là bất thường.

Nhà họ Ôn rất gia giáo, tối kị chuyện trò trong bữa ăn. Nhưng Tư Hoán và Tư Nhĩ trong bữa ăn lại rất thích cười đùa, mặc dù ông cụ từng nhắc nhở mấy lần nhưng đều không ăn thua, chỉ cần Tư Nhĩ làm nũng là ông lại mặc kệ.

Bây giờ A Hoành đến rồi, cô bé là người ít nói, thích ngồi yên lặng, ông cụ lại thấy không quen.

 

“Cha…” Bà Uẩn khẽ đặt chiếc thìa xuống, ngập ngừng như muốn nói điều gì đó.

“Uẩn Nghi, có chuyện gì vậy?” Ông cụ cau mày nhìn con dâu. “Cha có thể… cho Nhĩ Nhĩ về nhà được không ạ?” Bà Uẩn

vốn là người quý phái, lúc này lại có vẻ rụt rè, e ngại.

“Cha đã tìm được người chăm sóc cho Tư Nhĩ rồi, con không phải lo lắng gì hết.” Ông cụ có vẻ không vui, mắt lại liếc về phía A Hoành.

Tư Hoán vẫn đang nhai cơm, nhưng đầu mày khẽ cau lại. “Cha, trước đây cha thương Nhĩ Nhĩ nhất cơ mà?” Bà

Uẩn ngập ngừng, nhìn thẳng vào mắt bố chồng.

“Đủ rồi!” Ông cụ ném mạnh chiếc thìa xuống bàn.

Tư Hoán ngước mắt nhìn ông cụ với vẻ ai oán. Bà Uẩn không nói gì nữa.

Xung quanh lặng ngắt như tờ, A Hoành đang ngậm miếng canh trong miệng liền ngại ngùng nuốt xuống.

“Uẩn Nghi, có thời gian thà con đi mua cho A Hoành ít quần áo còn hơn.” Ông cụ thở dài rồi lại cầm chiếc thìa lên.

A Hoành nhìn bộ quần áo đồng phục đã có phần lấm lem của mình, bất giác cảm thấy ngượng ngùng, bất an.

Không phải trong tủ không có quần áo, có điều những bộ quần áo đó là của người khác, trông khá đắt tiền, cảm thấy mình mặc không hợp lắm. Còn những bộ quần áo cô mang đi đều không phù hợp với thời tiết này nên chỉ có hai bộ đồng phục mặc thay đổi. Đúng hôm nay lại có giờ thể dục nên quần áo khá bẩn và bị ông cụ phát hiện ra.

“Con biết rồi ạ.” Bà Uẩn đưa mắt nhìn A Hoành, không thể nhìn thấu bà đang nghĩ gì. A Hoành cúi đầu, chậm rãi nuốt miếng canh trong miệng mà cảm giác như có xương cá mắc trong cổ họng.

Thực ra quần áo đồng phục cũng tốt mà. A Hoành định lên tiếng nhưng lại thấy không ổn, rồi cô lén liếc sang Tư Hoán, thấy anh không có biểu hiện gì đặc biệt mới tạm yên tâm hơn. Tư Hoán đối xử rất tốt với Tư Nhĩ, hôm đó ở cổng trường, cô đã được chứng kiến điều này.

“A Hoành, cháu có bắt kịp được với chương trình học ở trường không?” Giọng cụ Ôn dịu lại, nhìn cô cháu nội bình dị trước mặt mà thấy đáng tiếc vô cùng. Ông đã làm lỡ dở cuộc đời của đứa trẻ này.

“Dạ, được ạ.” A Hoành hơi giật mình nhưng rồi lại ngoan ngoãn gật đầu ngay.

“Có gì không hiểu thì bảo… anh trai cháu chỉ cho.” Khi nhắc đến hai chữ “anh trai”, ông cụ cố ý nhấn mạnh hơn.

Trong tích tắc, sắc mặt bà Uẩn và Tư Hoán đều tái đi. Anh trai.

A Hoành cảm thấy cổ họng hơi ngưa ngứa, mở miệng nhưng lại không nói được gì, đành khẽ gật đầu.

Bàn tay đang cầm đũa của Tư Hoán run lên, một lát sau anh đứng dậy, lịch sự rời ghế. “Cháu ăn đủ rồi ạ.” Anh quay đi mà cảm thấy tim đau nhói, như thể bị ai bóp nghẹt, đương nhiên cũng chẳng kịp quan tâm đến cảm nhận của người bên cạnh.

“Ngôn Hi.” Tư Hoán quay về phòng mình, đặt micro lên tai, im lặng hồi lâu mới lên tiếng.

“Hả?” Giọng đối phương khá mơ hồ, kèm theo chút uể oải.

“Tớ nhớ Nhĩ Nhĩ rồi.” Tư Hoán nắm chặt chiếc micro. “Ờ.” Đối phương lười biếng đáp lại một từ.

“A Hi, tớ nói là tớ nhớ Nhĩ Nhĩ!” Tư Hoán nói to hơn, không kìm nổi sự ấm ức, mắt bắt đầu đỏ hoe.

“Gào lên như thế làm gì chứ? Cậu điên à?” Ngôn Hi nghiêm nghị quát.

“A Hi…” Tư Hoán có vẻ rất ấm ức.

“Gọi hồn à?” Ngôn Hi cười gằn, vẻ rất bực bội.