ĐỪNG NÓI CHUYỆN VỚI CÔ ẤY [Chương 1.9]

Cho nên, khi nghe Diệp Thu Vi nói rằng có thể thoát khỏi sự ràng buộc của bản năng, phản ứng đầu tiên của tôi chính là nghi ngờ và khinh thường.

Đương nhiên, chuyện xảy ra sau đó đã làm sự nghi ngờ của tôi giảm bớt phần nào.

Chúng ta hãy nói tiếp về “bản năng tính dục”.

Trong tiếng Anh, từ này được viết là “libido” thay vì “sexual instinct”, qua đó có thể thấy tính dục ở đây không đơn thuần là chỉ các hoạt động tình dục. Nó phiếm chỉ tất cả khoái cảm ở các khí quan trên cơ thể người, chẳng hạn như khoái cảm khi bú mút ở trẻ con, khoái cảm khi bài tiết chất thải ra khỏi cơ thể, khoái cảm do lòng tò mò mang lại, đương nhiên, trong đó cũng bao gồm cả khoái cảm tình dục trong khi thực hiện hành vi giao hợp.

Ví dụ: Có người thích soi gương nặn mụn, đây chính là một loại khoái cảm khi đẩy được chất thừa ra ngoài cơ thể; lại có người thích ngậm điếu thuốc trong miệng, tự bản thân anh ta có lẽ cũng không ý thức được rằng mình đang hưởng thụ khoái cảm do việc này mang lại. Các loại khoái cảm kể trên đều là khoái cảm nguyên thủy có sẵn ngay từ khi con người được sinh ra, xét một cách căn bản, đó là sự thể hiện của bản năng tính dục.

Freud cho rằng, những khoái cảm nguyên thủy này chính là “bản năng tính dục”, là ngọn nguồn của mọi hiện tượng tâm lý của nhân loại. Quan điểm này từng được Diệp Thu Vi dùng nguyên văn để trần thuật lại.

Bản năng tính dục và bản năng là hai thứ không thể chia tách, cần phải dựa vào nhau để tồn tại. Dùng lời của thầy giáo dạy chính trị thời trung học cơ sở của tôi năm xưa thì chính là “trong anh có tôi, trong tôi có anh”.

Tóm lại, Diệp Thu Vi nói là chỉ cần có thể thoát khỏi sự ràng buộc của bản năng tính dục là sẽ có thể hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của bản năng, câu nói này về mặt quan hệ nhân quả thì có thể đứng vững được.

Thế nào là “ý thức” và “tiềm thức”?

Ví dụ: Hồi nhỏ, khi cha mẹ dẫn bạn ra ngoài, thường sẽ tìm cách dạy bạn nhớ đường về nhà, thế rồi bạn sẽ cố gắng suy nghĩ xem nhà mình nằm ở nơi nào, cần phải rẽ ở chỗ nào, chỗ tiếp theo sẽ là công viên hay cửa hàng. Quá trình suy nghĩ của bạn khi đó chính là “ý thức”.

Về sau, bạn lớn dần, vào tiểu học, lại lên trung học cơ sở. Sau khi tan học, bạn căn bản chẳng cần suy nghĩ mà hai chân vẫn giống như có mắt, cứ thế đưa bạn đi thẳng một mạch về tới nhà. Bởi lẽ, mọi thứ trên đường bạn đều đã quá quen thuộc, do đó căn bản không cần phải suy nghĩ xem nên đi như thế nào. Lúc này, quá trình bạn đi bộ về nhà chính là một hành vi theo “tiềm thức”.

Có thể nói thế này, hoạt động suy nghĩ của chúng ta thường ngày có thể chia ra làm hai bộ phận, trong đó “ý thức” là bộ phận mà chúng ta có thể cảm nhận được, còn “tiềm thức” thì đương nhiên là bộ phận mà chúng ta không thể cảm nhận được.

Về hai nhân tố này, Freud từng đưa ra “lý luận núi băng” nổi tiếng. Chúng ta đều biết, giả như nước và băng đều thuần khiết, vậy thì khi băng nổi bồng bềnh trong nước, bộ phận lộ ra trên mặt nước đại khái chỉ chiếm khoảng một phần mười mà thôi. Freud cho rằng bộ phận “ý thức” trong nhân cách của con người tương đương với phần lộ ra trên mặt nước của núi băng, còn phần ẩn bên dưới mặt nước chính là bộ phận “tiềm thức” mà chúng ta không thể cảm nhận được.

Trong tâm lý của con người, bộ phận tiềm thức hiển nhiên chiếm tỷ lệ lớn hơn ý thức rất nhiều.

Hành vi có ý thức thông thường đều mang tính chủ động, còn hành vi theo tiềm thức thì thường xuất phát từ kinh nghiệm hoặc thói quen.

Sự thực quả đúng là như thế, nhưng về tiềm thức thì cách nói này hãy còn chưa hoàn chỉnh. Trong tiềm thức, ngoài kinh nghiệm và thói quen ra thì còn có một số thứ mà chúng ta từng chủ động nhận biết được, nhưng lại vì nguyên nhân nào đó mà bỏ qua, từ đó vùi sâu chúng vào trong ký ức.

Chẳng hạn như là trong mùa đông năm ngoái, nhân cách siêu ngã của bạn khiến bạn đi tới đỡ một bà lão bị ngã ở bên đường dậy, lại dìu bà cụ tới ngồi xuống bên đường, sau khi xác nhận là bà cụ không việc gì thì mới yên tâm rời đi. Bạn nhìn khuôn mặt của bà ấy, đồng thời ghi nhớ một cách có ý thức, nhưng rất nhanh sau đó đã lẳng lặng quên đi, thế là bộ phận ký ức đó liền bị đẩy vào khu vực tiềm thức.

Chúa sẽ phù hộ em – Cố Khúc [Chương 3.2]

Tôi và Lâm muốn đi theo dân làng xuống hạ lưu sông tìm kiếm nhưng bị mấy người lớn tiếng quát tháo, để không làm tình hình thêm rối loạn, chúng tôi đành đứng yên, cũng không dám nói gì, thỉnh thoảng lại liếc nhìn nhau, thấy sắc mặt đối phương đã trắng bệch như người chết trôi, tóc cũng ướt sũng, dính bết vào cổ, cũng không biết là do sương hay mồ hôi, người thì run bần bật trong buổi sáng lạnh thấu xương. Khi ánh mặt trời rọi xuống, hai người dân làng mệt mỏi bước tới ra hiệu cho chúng tôi đi theo họ về thôn.

 

Thôn Gama được bao bọc bởi núi đá, những căn nhà bằng đá xám xịt kề sát nhau, như thể mỗi căn nhà đều được xây dựng trên nóc của một căn nhà khác, bất kể là nhà hay đá đều bị tuyết phủ kín, lặng lẽ đứng im trong đất trời lạnh lẽo và núi đồi cao ngất bao quanh.

Trưởng thôn Gama tên là Wughi, một cụ già với vẻ mặt đau thương, đang đứng rất nghiêm trang trước dãy nhà bằng đá. Nhìn thấy chúng tôi, ông ta lặng lẽ quay người, ra hiệu chúng tôi đi theo. Tôi và Lâm bước thấp bước cao đi theo, dọc đường chỉ im lặng. Tôi như kẻ mất hồn, thi thoảng liếc mắt nhìn Lâm, nét mặt anh ta vô cùng buồn bã, hoàn toàn không thể đoán được anh ta đang nghĩ gì. Đôi lúc, sự day dứt và cảm giác tội lỗi có thể khiến một người gục ngã. Câu này do ai nói nhỉ? Đầu óc tôi rất hỗn loạn, rất đau… sợ hãi, hoảng loạn, đau lòng… tất cả cảm xúc đều đè nén trong tim. Tôi liên tục hít thở thật sâu, cố ép bản thân đừng nghĩ đến Abbas nữa, dù sao việc cũng đã rồi, nhưng tôi lại không thể không nghĩ…

Abbas chết rồi, mà việc này lẽ ra có thể không xảy ra, nếu anh ta không tới cứu tôi và Lâm, nếu tôi không cẩu thả nhét tiền vào trong túi áo khoác ngoài… nhưng đời không có chữ “nếu”.

Ông cụ nãy giờ đi phía trước đột nhiên quay đầu lại, phóng ánh mắt như thấu cả tâm can về phía tôi rồi lập tức quay đi, bình tĩnh bước tiếp như thể cảnh tượng ban nãy hoàn toàn chưa từng xảy ra. Nhưng tôi lại như kẻ làm việc xấu bị bắt quả tang, mà sự thật đúng là như vậy, vô cùng hoảng loạn. Lâm liếc nhìn tôi, đột nhiên giơ tay nắm chặt lấy tay tôi, những ngón tay thon dài, lòng bàn tay ấm áp vẫn còn ươn ướt. Tôi hơi khựng lại.

Một đám trẻ con không biết từ đâu xuất hiện, bám theo chúng tôi như cái đuôi sao chổi, vừa tròn mắt hiếu kì vừa không ngừng gọi: “Chijili? Chijili?” Đây là câu tiếng Balti mà người nước ngoài nào cũng hiểu, ý là: “Có chuyện gì vậy?”

Tại vùng núi Karakoram rộng lớn, ngoài những người phu khuân vác kiêm luôn nhiệm vụ dẫn đường cho người nước ngoài như Abbas ra, hầu như không có mấy người biết tiếng Anh, vậy mà hình như trong cái thôn Gama bé tí tẹo này, những người biết tiếng Anh cũng không hề ít. Chí ít ông trưởng thôn Wughi trước mặt chúng tôi lúc này là một người như vậy.

Nhưng Wughi không hề nhìn chúng tôi lấy một lần, chỉ lặng lẽ dẫn chúng tôi vào một ngôi nhà. Nhìn từ bên ngoài, tất cả các ngôi nhà đều giống hệt nhau, chẳng khác gì các vách đá, ngoại trừ có một cánh cửa. Một người phụ nữ khoác chiếc khăn choàng thêu hoa bước ra, bà ta là vợ của Wughi, tên là Sila. Bà ta đưa tôi vào phòng sau, còn Lâm thì được gọi ra một căn phòng lớn nhất ở giữa nhà, đó chính là phòng khách.

Ở Pakistan, phụ nữ thường không có quyền nghị sự, không có việc gì thì cũng không chạy ra phòng khách. Nhìn bóng Lâm khuất dần, tôi biết anh ta bị gọi đi bàn bạc việc hậu sự của Abbas, trong lòng càng bứt rứt đứng ngồi không yên, muốn làm gì đó nhưng lại không làm được gì cả. Trong cuộc sống luôn có những lúc ngoài việc đối mặt với hiện thực thì không còn cách gì khác, giống như lúc này vậy.

Tôi phải đợi dân làng bàn bạc xong mới biết kết quả, không biết sẽ phải bồi thường hay làm trâu làm ngựa đền tội đây? Có khi nào bị lôi đi chém đầu thị chúng không? Bất luận kết cục là gì, tôi đều sẵn sàng chấp nhận, mà cũng chỉ có thể chấp nhận.