Như hoa, như sương lại như gió – Vương Thinh [chương 4.2]

 

Đỗ lão gia chẳng tự hào về điểm gì của con trai, ngoại trừ ngoại hình. Nếu có thể kết thông gia với nhà họ Đinh thì nhà họ Đỗ chỉ có lợi chứ không có hại, huống hồ trong lòng ông ta còn đang ấp ủ một dự tính khác. Chả là cô con gái Đỗ Hoài Bích đang du học ở Anh của ông ta lại học cùng trường với đại công tử Khang Thiếu Đình, con trai cả của Tổng tư lệnh quân khu Hồ Bắc. Hai người không chỉ quen biết mà còn khá thân thiết với nhau, bởi vậy ông ta muốn mượn chuyện hôn sự với nhà họ Đinh để nâng cao danh tiếng cho nhà mình, sau này kén được rể quý thì cũng không đến nỗi mất mặt.

“Sao thế? Sao con chẳng nói gì, lẽ nào không vừa ý?” Đỗ lão gia phát hiện con trai cứ im lặng nên lấy làm lạ. Ông ta không hiểu vì sao Đỗ Hoài Dung lại lạnh nhạt với hỉ sự này đến vậy.

“Hôn nhân đại sự do cha mẹ quyết định, con đâu dám có ý kiến.” Đỗ Hoài Dung cúi đầu, cảm giác cơn lạnh xuyên thấu tâm can vừa nãy đã bị thiêu cháy thành than bởi cốc trà nhài bốc khói nghi ngút bên cạnh rồi trốn ra ngoài theo làn khói phiêu lãng.

“Sau khi thành thân, người phải đối diện với trăm năm cuộc đời là cậu chứ nào còn ai khác.” Tiết Vân Tần tình cờ đi ngang qua, chêm vào một câu khiến Đỗ lão gia không khỏi phật ý. Sở dĩ Tiết Vân Tần dám nói như vậy trước mặt anh rể họ cũng vì nghĩ đến tình nghĩa thường xuyên đánh cờ với Đỗ Hoài Dung, vậy mà Đỗ Hoài Dung vẫn không dám ngẩng đầu nói câu nào.

“Nó không phản đối là được rồi. Cậu là trưởng bối, chẳng thay tôi khuyên nhủ nó thì thôi lại còn đổ thêm dầu vào lửa.” Đỗ lão gia nhíu mày vẻ không hài lòng rồi tiếp tục quay sang nhắc lại chuyện hôn sự: “Con gái nhà ấy tên là Đinh Thục Phương. Vì Đinh lão gia không thích lấy vợ lẽ nên chỉ có một cô con gái với chính thất. Từ nhỏ con bé đã được giáo dục rất cẩn thận, nghe nói tài mạo rất mực song toàn. Lấy được Đinh tiểu thư làm vợ khác gì hổ được chắp cánh, ngoài ra chúng ta còn có thể sáp nhập cả gia sản nhà họ Đinh nữa. Tuy nhà họ Đinh là địa chủ thuê đất làm ăn nhưng gia nghiệp cũng không nhỏ. Ở ngoại thành có mấy công xưởng, tất cả đều là đất nhà họ đấy. Xưởng dệt vải nhà mình gần đây đang cần mở rộng quy mô, trong khi nội thành cứ năm ngày ba trận náo loạn, bao nhiêu công nhân bị bắt vào đồn. Nếu được họ ra tay tương trợ thì chuyện mở rộng xưởng coi như đã thành công một nửa. Cho nên, bất luận thế nào cũng phải kết thông gia với nhà họ Đinh.” Đỗ lão gia đã muốn làm chuyện gì thì không ai được phép cản trở.

“Hoài Dung hỏi cưới Đinh tiểu thư là phúc phận của nhà họ Đinh, chắc họ phải cầu Thần khấn Phật mãi mới kiếm được ông thông gia tài cao hiểu rộng như anh rể đây. Đúng là một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối, tốt đẹp quá còn gì. Anh rể, anh tính toán đâu ra đấy, không hổ danh là một thương gia tài ba.”

Nói rồi, Tiết Vân Tần giơ ngón tay cái lên tỏ ý khâm phục. Đỗ lão gia xoa cằm, thầm đắc ý. Trong khi Đỗ Hoài Dung thì chậm chạp gật đầu, sắc mặt trắng bệch.

 

Ra khỏi sảnh của Vinh Thọ Viên, Tiết Vân Tần đi trước Đỗ Hoài Dung có mấy bước mà giờ đã bỏ xa anh. Mấy lần Đỗ Hoài Dung định gọi hắn nhưng lại chẳng thể nào mở miệng. Đến khi không thể chịu được nữa, anh mới dứt khoát đuổi theo, hỏi: “Muốn đánh cờ không?”

Tiết Vân Tần lạnh nhạt đáp: “Khi nào cậu thắng được bản thân thì hẵng đến tìm tôi.” Dứt lời, hắn bỏ đi một nước.

Đỗ Hoài Dung ngây người đứng đó hồi lâu. Trên đường trở về Quy Phác Viên, mấy gia nhân biết tin liền chạy ra chúc mừng, Đỗ Hoài Dung không thèm đoái hoài đến đám người đang khua chân múa tay sau lưng. Khoảnh khắc ấy, dường như ngay cả khu vườn này cũng không còn là vùng trời của anh nữa. Vậy đâu là chốn cho anh dung thân?

“Cậu Hai, cậu về rồi à?” Thoáng thấy bóng Đỗ Hoài Dung, Tư Kỳ đã chạy ra đón, tay nàng bưng một cái khay chứa đầy lọ sứ không rõ đựng gì bên trong.

Đỗ Hoài Dung chau mày, chỉ vào mấy chiếc lọ, hỏi: “Cái gì đây?”

“Dạ, khi nãy cậu sang chỗ ông, bà Hai dặn quản gia bảo em mang mấy thứ này về cho cậu tẩm bổ. Quản gia nói đây toàn là thuốc quý hiếm, dạo trước nhờ người ta mua tận bên Tây về đấy. Bà Hai nói, uống thuốc này xong, cơ thể cậu sẽ khoẻ hơn, bách bệnh không xâm hại được.” Đoàn Tư Kỳ liến thoắng nói. “Quản gia còn đặc biệt dặn em phải chăm sóc cậu cẩn thận, kiểu gì cũng phải khiến cậu mau chóng khoẻ lại. Bởi vì đây chính là đại sự hàng đầu mà lão gia và bà Hai quan tâm.”

Nàng thành thật thuật lại lời quản gia dặn. Bất luận trong phủ có bao người thầm trù ẻo sau lưng, nói cậu chủ là ma đoản mệnh, là con bệnh nhưng nàng lúc nào cũng cầu nguyện cho anh, mong anh được mạnh khoẻ, bình an. Bây giờ có loại thuốc bổ thần kỳ này thì ngày cậu chủ lành bệnh chắc chắn sẽ không còn xa. Bởi vậy nàng đường đường chính chính vui thay cho anh, cười thay cho anh.

Theo lý thì Đỗ Hoài Dung phải cảm thấy ấm lòng mới phải, bởi cả nhà đều quan tâm đến sức khoẻ của anh, đặt sức khoẻ của anh lên hàng đầu, tìm mọi cách mua bằng được thuốc Tây quý hiếm về cho anh dùng. Nhưng không hiểu sao anh lại thấy lòng mình đắng ngắt thế này? Nếu không có cuộc liên minh hôn nhân kia thì đời nào anh nhận được nhiều sự quan tâm đến thế? Lúc anh Cả còn sống, ánh mắt trìu mến của cha chưa bao giờ dành cho anh, nay anh Cả đi rồi, ánh mắt đó vẫn không chịu dừng lại nơi anh. Người trước kẻ sau lúc nào cũng mang anh ra so sánh. Sống cũng thế mà chết cũng vậy, những lời bàn tán của thiên hạ điên cuồng sinh sôi nảy nở, truyền từ miệng người này đến miệng kẻ khác. Chính vì nghe thấy những lời ấy nên anh mới chọn cách đóng cửa lòng mình; tai giả điếc, mắt giả mù cũng là một cách sống.

Nhưng tại sao Tư Kỳ lại cười với anh? Nếu nàng cũng nói những lời châm biếm ác ý, cũng ném đá giấu tay như bao kẻ khác thì anh đã không đứng ngồi không yên như lúc này. Vậy mà nụ cười của nàng lại thuần khiết đến thế, rạng ngời đến thế! Nụ cười ấy khiến nỗi bi thương mà anh cố gắng đè nén xuống tận đáy lòng bấy lâu nay lại lần nữa ngóc đầu dậy, khiến bao công sức của anh đều đổ xuống sông xuống bể.

“Cậu Hai, cậu sao vậy?” Tư Kỳ ngưng cười, lo lắng nhìn cậu chủ.

Đỗ Hoài Dung nén lòng bước ra khỏi nhà, tránh nàng như tránh tà. Anh muốn tránh xa tất cả người và vật trong Đỗ phủ này. Vừa chạy thục mạng vừa thở hổn hển, đột nhiên Đỗ Hoài Dung sững người, trong lúc hoảng loạn chẳng ngờ anh đã chạy đến bên hồ.

Tư Kỳ không đuổi tới gần mà chỉ đứng đằng xa dõi theo bóng Đỗ Hoài Dung. Nàng không biết lão gia đã nói gì với anh nhưng nàng cảm nhận được phản ứng khác thường của cậu chủ, chắc chắn trong lòng anh đang rất đau khổ…

 

Tịch dương dần đổ bóng chiều, vầng mây muộn đã trôi dạt về xa, Đỗ Hoài Dung vẫn thất thần đứng bên hồ. Trước đây, nếu Tư Kỳ từng cảm thấy bóng lưng của anh toả nét tiêu điều đến vô tận thì hôm nay, nàng còn cảm nhận được một dư vị khác, dư vị của sự trống rỗng.

Tiêu điều bởi đã rơi rụng hết rực rỡ, phồn hoa, còn trống rỗng là màu sắc lạc lõng nhất của thế gian này. Nàng không nỡ để cậu chủ một mình chịu đựng nỗi cô đơn giằng xé, liền nhẹ nhàng nắm chặt lấy bàn tay anh, khe khẽ vuốt ve, mong truyền cho anh chút hơi ấm. Như vậy anh sẽ không còn lẻ loi nữa. Cho dù cả đời anh sẽ chẳng biết nàng từng nắm tay anh nhưng nàng thì không bao giờ quên, dẫu cái nắm tay ấy chỉ là nắm ở khoảng cách xa, khi nàng nhắm mắt trái lại rồi lén giơ tay phải của mình phủ lên bóng bàn tay của anh. Trong tâm niệm của nàng, họ đã từng nắm tay nhau thật chặt như thế một lần.

Có lẽ nàng nên làm gì đó cho cậu chủ. Ngẫm nghĩ một lát, Tư Kỳ liền quay về phòng, mang bút ra vẽ vội một bức tranh rồi mau mắn bước tới chỗ Đỗ Hoài Dung, giơ bức tranh còn chưa ráo mực đến trước mặt anh, nhanh nhảu nói trước: “Cậu chủ, cậu thấy tôi vẽ con vịt có giống không?”

Tư Kỳ chưng ra vẻ mặt vô cùng nghiêm túc muốn thỉnh giáo nên Đỗ Hoài Dung không thể thoái thác. Liếc mắt nhìn một cái, trong phút chốc anh chỉ biết méo miệng cười. Đây mà là vịt sao? Rõ ràng là một con gà trống oai vệ. Nói gì thì nói, Tư Kỳ đã theo anh bấy lâu, cơ bản đã học được bảy, tám phần công phu, vậy mà sao đến giờ vẫn không phân biệt được gà trống với vịt? Nhưng chỉ trong giây lát, Đỗ Hoài Dung chợt hiểu ra, nàng đang cố ý chọc cho anh cười. Nếu là con người giả nhân giả nghĩa thì làm sao thấu hiểu được sự trân quý của lòng chân thành tha thiết? Trong khoảnh khắc, Hoài Dung bất chợt cảm thấy nàng gần gũi biết mấy, trong sáng biết mấy.

“Tư Kỳ…” Hoài Dung vô thức gọi tên nàng, trực giác mách bảo anh nên nói gì đó, ngặt nỗi trong lòng chất chứa bao nhiêu lời mà không sao thốt ra khỏi miệng.

Tư Kỳ nhẫn nại chờ đợi. Nàng tưởng cậu chủ sẽ thổ lộ với mình nhưng đợi mãi, đợi đến khi sự im lặng bị thời gian bịt kín, anh mới hững hờ buông một câu: “Không có gì. Về thôi.”

Cuối cùng, Đỗ Hoài Dung vẫn không thể mở lòng. Tuy gần nhau trong gang tấc mà sao nàng thấy người ấy như xa mãi tận chân trời. Cuối cùng nàng vẫn không thể bước vào  vòng tròn khép kín quanh người ấy.

 

Như hoa, như sương lại như gió – Vương Thinh [chương 4.1]

Chương 4: Số phận an bài. Duyên do trời định

 

 

Sáng sớm, trời lất phất mưa, Tư Kỳ biết hoa dạ hợp ưa ấm sợ lạnh, cũng biết đây là chậu hoa mà cậu chủ yêu thích nhất, bèn vội vàng bê nó vào phòng. Thư phòng phảng phất hương thơm dìu dịu khiến nàng bỗng cảm thấy thật ấm áp. Tư Kỳ đặt chậu hoa xuống rồi quay trở lại bàn luyện chữ, mải miết hoàn thành bài tập cậu chủ giao. Nhưng viết được mấy chữ, nàng vẫn thấy gượng gạo thế nào ấy, hình như vận lực không đủ.

Đỗ Hoài Dung tới gần, liếc mắt nhìn rồi nhắc nhở: “Lưng phải thẳng, bút phải cầm chắc, từng nét chữ phải biết thu biết thả. Tay đừng có cứng đờ như thế. Cô luyện chữ mà người lúc nào cũng cứng nhắc như vậy thì làm sao chữ viết uyển chuyển được. Viết lại đi!”

Tư Kỳ thở dài, bỏ tờ giấy đang viết dở đi, thay bằng tờ giấy mới. Vừa hạ bút thì bên cạnh đã vang lên tiếng thở dài ngán ngẩm, tiếp đó là giọng nói của cậu chủ: “Cô xem cho kỹ nhé. Phải thu lực lúc viết nét móc này, cổ tay hướng vào trong rồi chuyển, bút sẽ được nhấc lên một chút…”

Vừa nói, Đỗ Hoài Dung vừa cầm chặt tay nàng, nhẹ nhàng tô một nét móc trong theo nét mờ đã vẽ sẵn. Đoàn Tư Kỳ thoáng nhìn đã thấy nét bút mà cậu chủ cầm tay nàng viết là nét đẹp nhất trong cả chữ, lại nhìn mu bàn tay vừa được cậu chủ chạm vào, má chợt ửng hồng, việc luyện chữ càng trở nên khó nhọc.

Đỗ Hoài Dung thấy nàng đã hiểu lời mình, liền trở về bên chiếc đôn tròn đặt ở phía trong cùng của thư phòng, một mình ngồi đánh cờ vây. Nhân lúc cậu chủ không chú ý, Tư Kỳ lén quay sang nhìn trộm. Nàng thấy tay trái cậu chủ đang nâng hộp đựng quân cờ, tay phải kẹp một quân trắng, đôi lông mày nhíu chặt như đang vắt óc nghĩ xem tiếp theo nên đi thế nào, nàng không giấu được nụ cười mỉm e thẹn. Cũng chẳng rõ vì sao nàng lại thấy vui như vậy, nụ cười cuối cùng cũng hé nở càng lúc càng nồng theo hương hoa. Một khi  không biết duyên do thì càng khó dừng lại.

“Bộp!” Quân cờ trắng trong tay cậu chủ bị ném vào hộp. Đỗ Hoài Dung khẽ thở dài, lấy tay trộn cả bàn cờ một cách không cam tâm, lẩm bẩm: “Tiếc quá! Chỉ thiếu một nước.”,  hai chân mày dần dần dãn ra.

Tư Kỳ dừng bút, bước đến giúp cậu chủ thu cờ, vui vẻ nói: “Cậu tự đánh với mình, tự công tự thủ nên đương nhiên là khó rồi.”

“Câu này nghe rất quen tai.” Đỗ Hoài Dung bất giác nói với nàng.

Tư Kỳ vô tư tiếp lời, mặt mày hớn hở như thể vừa được thầy giáo hỏi một câu mà mình đã biết câu trả lời: “Lần trước trong cuốn tạp ký cậu cho tôi mượn có một đoạn thế này: Tình cảm nam nữ tựa ván cờ. Một công một thủ chẳng hơn thua. Sóng gió chưa nổi đầu đã vỡ. Đợi xem thành bại một ván cờ. Đọc xong, nàng tràn đầy tự tin đợi thầy khen ngợi.

Đỗ Hoài Dung quay đầu lại, không ngờ nàng đọc đoạn thơ con cóc đó mà cũng nghiêm túc đến vậy, không nhịn được cười. “Cô toàn đọc linh tinh, chẳng biết ngượng mồm gì cả.”

Nhưng thấy Tư Kỳ chợt xị mặt xuống, anh vội vàng vớt vát một câu: “Nhưng cô cũng chăm chỉ lắm. Có điều, sau này đừng học thuộc mấy câu kiểu này nữa. Không hay ho gì đâu.”

“Mấy câu này viết sai ạ?”

“Cú pháp không sai nhưng những chuyện như vậy thà không có còn hơn.”

“Lẽ nào vì nam nữ luôn vướng vào vòng yêu hận không thoát ra được nên cậu mới thấy thà không có còn hơn?” Câu hỏi của Đoàn Tư Kỳ vừa mang ý chất vấn vừa mang ý phản bác, lần đầu tiên nàng dám ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Đỗ Hoài Dung.

Đỗ Hoài Dung sững sờ vì kinh ngạc, hồi sau mới hỏi: “Cô học những điều này ở đâu thế?” Nếu không phải rút ra kết luận từ một cuốn sách nào đó thì chỉ còn khả năng nàng đã từng trải nghiệm chuyện yêu đương.

Anh nhíu mày rồi chậm rãi nói: “Hay là…” Nửa câu sau anh không nói ra, cũng không muốn nói rõ, chỉ cảm thấy những lời nói ngông cuồng này giống như chiếc gai nhọn vạn năm rút ra cắm vào người khác rồi tự cắm vào mình. Thường ngày đầu óc anh rất sáng suốt, không hiểu sao hôm nay bỗng thấy mờ mịt như bị phủ một màn sương vậy.

Đoàn Tư Kỳ thấy sắc mặt cậu chủ hơi lạ, biết mình đã lỡ lời, liền cảm thấy hối hận, lẽ ra không nên đọc trộm cuốn tiểu thuyết tân thời trong phòng cô Tiểu Cửu mời phải.

“Cậu Hai…” Nàng cuống quýt giải thích nhưng đối phương đã không muốn nghe nữa. “Mau thu dọn bàn cờ đi.” Đỗ Hoài Dung lẳng lặng đặt hộp đựng cờ trên tay xuống, thả nốt quân trắng vào rồi đóng lại.

Đúng lúc đó, ngoài cửa có tiếng gia nhân vọng vào: “Cậu Dung, ông mời cậu đến Vinh Thọ Viên ngay bây giờ. Bên đó có việc gấp ạ.”

Một năm Đỗ lão gia chẳng nói chuyện quan trọng với con trai được mấy lần, Đỗ Hoài Dung biết mình chỉ là phế nhân trong nhà, không nói không rằng quay người, lẳng lặng đi theo gia nhân.

 

Thấy cha, Đỗ Hoài Dung liền gật đầu chào rồi cúi mình hành lễ vô cùng kính cẩn. Bất luận Đỗ lão gia nói gì, anh đều yên phận ngồi trên ghế nghe với khuôn mặt vô cảm. Vòng vo một hồi, cuối cùng ông ta cũng đi thẳng vào vấn đề chính: “Hoài Dung à, con cũng đến tuổi thành gia rồi. Tục ngữ nói: Trong ba tội bất hiếu thì không có con nối dõi tông đường là tội nặng nhất. Ta và mẹ con đã nghĩ kĩ rồi, giờ đã đến lúc phải bàn chuyện hôn sự cho con.”

Đỗ Hoài Dung bỗng thấy sống lưng ớn lạnh, thì ra mấy câu thăm hỏi bệnh tình khi nãy chỉ là giả, bắt anh lấy vợ sinh con mới là mục đích thật. Nếu có ngày cha nói với anh nửa câu quan tâm, nửa lời ấm áp thì chắc bệnh tình của anh đã không kéo dài đến tận hôm nay.

Đỗ lão gia thấy con trai im lặng, nghĩ anh đã đồng ý, liền thao thao bất tuyệt: “Tuy gia đình chúng ta không phải hộ buôn bán giàu có gì nhưng gốc gác lại cao sang, bởi vậy chọn con dâu nhất định phải chọn tiểu thư con nhà khuê các, môn đăng hộ đối mới không hổ thẹn với tổ tông. Cha đã ngắm sẵn một nhà, mẹ con cũng thấy rất ưng ý.”

Khái niệm “rất ưng ý” chỉ áp dụng với tiêu chuẩn của cha mẹ chứ “rất ưng ý” trong mắt Đỗ Hoài Dung mãi mãi chẳng bằng một câu qua quýt của hai người. Lệnh của cha mẹ, lời của mai mối đôi lúc cũng giống như một hợp đồng bán thân, đã chịu ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thì phải lấy cả đời ra mà báo đáp. Không phải Đỗ Hoài Dung không muốn phản kháng mà là chẳng có đường phản kháng, giống như nắm đấm anh đang giấu trong ống tay áo lúc này chẳng dám thò ra ngoài, anh không có dũng khí để thốt ra một tiếng “không”.

“Khuê nữ con nhà danh giá đến nhà mình cầu thân không thiếu, cho nên cha muốn sớm quyết định chuyện này cho xong. Chiều nay, thợ chụp ảnh sẽ đến chụp ảnh chân dung cho con để bên kia tiện xem mặt.”

Như hoa, như sương lại như gió – Vương Thinh [chương 3.2]

Bất chợt một cơn gió lướt qua đình, thổi bay tờ báo trên ghế rơi xuống đất. Sự lạnh lẽo của cơn gió khiến Đoàn Tư Kỳ sực tỉnh như thể vừa lãnh một cái tát trời giáng. Nàng trấn tĩnh lại, cúi nhặt tờ báo rơi dưới chân lên và đưa cho Tiết Vân Tần. “Này, báo của cậu. Giờ có thể trả dây buộc tóc cho tôi được chưa?”

“Cô vẫn còn cầm khăn của tôi nhỉ?” Tiết Vân Tần mỉm cười trêu chọc, cuốn sợi dây đỏ quanh cổ tay thành một chiếc vòng nhỏ rồi cố tình giơ lên khoe nàng: “Thế nào? Đẹp không?”

Tư Kỳ nghĩ bụng, dù nàng có bảo là không đẹp thì chắc chắn hắn cũng sẽ không trả cho nàng. Nếu giờ nàng mang theo chiếc khăn đã giặt sạch sẽ ấy bên người thì đã có thể dùng nó làm vật trao đổi rồi. Tư Kỳ đành buông xuôi, tiện tay đưa tờ báo cho hắn, bất chợt một hàngchữ màu đen đập thẳng vào mắt nàng, tuy nàng không muốn đọc nhưng nó lại cứ hút lấy ánh mắt nàng: Tưởng Giới Thạch và Phùng Ngọc Tường đạt được thoả thuận tại hội nghị diễn ra ở Từ Châu, cùng bắt tay chống Cộng, chống Liên Xô. Hội nghị này đánh dấu sự hợp tác giữa Nam Kinh và Vũ Hán.  Đúng là “cành đậu nấu hạt đậu”[1], số công nông tử vong lên tới hàng ngàn người.

Nàng lẩm nhẩm đọc trong miệng, thấy hai câu cuối khó hiểu nhất nên đọc lại lần nữa: Cành đậu nấu hạt đậu, số công nông tử vong lên tới hàng ngàn người. Cậu chủ từng giải thích cho nàng nghe về giai thoại bảy bước xuất khẩu thành thơ của Tào Thực, tuy nàng hiểu ý từng câu từng chữ nhưng lại không hiểu lắm về thời thế bấy giờ nên chẳng rõ vì sao họ lại dùng câu thành ngữ đó.

“Từ xưa, người Trung Quốc đã nổi tiếng là gà cùng một mẹ đấu đá nhau tới chết nên dù có chết bao nhiêu người đi chăng nữa thì cũng có gì đáng ngạc nhiên?” Tiết Vân Tần nói, khuôn mặt vẫn lạnh tanh như thường ngày.

“Nhưng số người chết lên tới hàng ngàn cơ mà. Những người này liên quan gì đến Tưởng Giới Thạch và Phùng Ngọc Tường chứ?” Tư Kỳ thật sự không hiểu. Bao nhiêu ngày chôn chân ở chốn viện sâu lầu cao, ngay cả thời gian về nhà thăm mẹ cũng chẳng có thì nàng lấy đâu thời gian tìm hiểu thế thời biến động ra sao.

Tiết Vân Tần khép hờ mắt, vừa ăn bánh vừa hỏi: “Ngay cả chuyện này mà cô cũng không biết sao? Thế hàng ngày Hoài Dung dạy cô những gì?”

“Dạy Đường thi, Tống từ. Cậu chủ giảng giải cặn kẽ lắm.” Tư Kỳ khẽ vênh cằm lên ra vẻ khoe khoang.

“Học những thứ của cổ nhân mà không thông hiểu chuyện hiện tại thì đúng là cứng nhắc. Ngày nay, phụ nữ không chỉ cần tận tuỵ ở nhà thêu thùa nấu nướng mà còn phải thông hiểu những chuyện xung quanh, nếu không có sống cũng u mê, lãng phí cả đời.  Hoài Dung ngốc, còn cô là dại, kẻ ngốc người dại hợp nhau quá còn gì. Nếu thiên hạ toàn những người như cô cậu thì xã hội dễ quản lý biết bao. Chắc Hoài Dung chưa bao giờ cho cô đọc báo đâu nhỉ?” Tiết Vân Tần mỉa mai bằng giọng điệu lạnh băng.

“Thường ngày, cậu chủ không đọc báo, cậu bảo bây giờ năm nào mà chẳng như năm nào, đất nước có thay đổi ra sao thì cũng là chiêu trò của đảng chấp chính cả, chẳng can hệ gì đến bách tính, bởi thế cậu không muốn đọc báo. Đương nhiên cậu không đọc thì tôi cũng chẳng có cơ hội liếc qua.”

“Thế còn cô? Cô có muốn tìm hiểu thời cuộc không?”

Đoàn Tư Kỳ ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu, đáp: “Tôi muốn.”

Tiết Vân Tần chưa từng gặp người con gái nào có hứng thú với thời cuộc, ngay cả cô gái gần gũi với hắn nhất là Tiểu Cửu cũng vậy. Hôm nay, tại Tư Kỳ hỏi nên hắn mới có hứng giảng giải. “Nếu nói từ đầu chưa chắc cô đã hiểu hết, tôi chỉ nói mấy điểm đơn giản thế này. Tưởng Giới Thạch và Phùng Ngọc Tường là người của Quốc Dân Đảng, trong khi đa số thành viên Cộng Sản Đảng xuất thân từ giai cấp công nông. Tuy mấy năm trước hai đảng đã ký hiệp ước hợp tác nhưng từ trước đến nay giang sơn chỉ có một vua, thiên hạ không dung hai chúa, cuộc đấu tranh giữa hai đảng phái không thể chấm dứt chỉ bằng một tờ giấy cam kết. Đã có tranh đoạt thì tất phải có người chết, bởi vậy những năm tháng này chẳng được mấy ngày bình yên.”

“Ồ… Chả trách trên báo dùng câu thơ Cành đậu nấu hạt đậu để so sánh.” Nghe đến đây, Tư Kỳ cuối cùng cũng vỡ lẽ. Bất luận ai tranh đấu với ai thì đều là người trong một nhà cả. Nhưng cứ nghĩ đến những người dân vô tội phải chết thảm thương, nhớ đến mẹ và anh họ thì lòng nàng lại thấy lo lắng. Nàng vụt ngẩng đầu, hỏi: “Thế thì… Cậu Vân, vì sao họ gây mâu thuẫn với nhau lại cứ phải làm hại đến dân thường? Chẳng lẽ tất cả mọi người rồi sẽ bị giết chết hết sao?”

“Ai bảo họ chỉ là dân thường chứ. Có điều cô cũng chớ nghĩ nhiều làm gì, vẫn chưa loạn đến nước đó đâu. Thời điểm nội chiến thực sự vẫn chưa tới mà.”

Dứt lời, Tiết Vân Tần đột nhiên đứng dậy, đi về phía Tư Kỳ khiến nàng hơi hoảng, cảm giác như có vật gì đó đè nặng lên lồng ngực, sắp ngạt thở đến nơi rồi. Nhưng Tiết Vân Tần chỉ đi lướt qua nàng để bước tới bên người phụ nữ khác. Tiểu Cửu đã về. Đôi má trắng như trứng gà bóc của cô hây hây đỏ vì bị nắng chiếu. Cô liên tục đưa tay lên quệt mồ hôi như thể cố ý để cho Tiết Vân Tần nhìn thấy. Thấy hắn dang tay muốn ôm mình vào lòng, Tiểu Cửu hờn dỗi đặt miếng dưa mật vào tay hắn rồi giả vờ ngó lơ.

Giờ phút này, không còn sự đấu đá đảng phái nào nữa mà chỉ còn hai người họ. Tư Kỳ lặng lẽ rút lui, nhường lại sân khấu cho họ. Đó là điều duy nhất nàng có thể làm.

[1] Đây là một câu trong bài thơ Cành đậu nấu hạt đậu của Tào Thực. Tào Thực là con trai của Tào Tháo, từ nhỏ đã tỏ ra thông minh lanh lợi nên rất được Tào Tháo thương yêu, nhưng lại bị người anh là Tào Phi ghét bỏ. Sau khi Tào Phi lên làm Ngụy Vương, đã vin vào một chuyện nhỏ nhặt để đòi giết Tào Thực. Mẹ của Tào Thực ra sức khuyên can, Tào Phi liền ra lệnh cho Tào Thực trong vòng bảy bước phải làm xong một bài thơ. Kết quả, chưa cần đi hết bảy bước, Tào Thực đã làm xong. Nguyên văn bài thơ: Cành đậu nấu hạt đậu. Đậu trong nồi kêu khóc. Rằng cùng một gốc sinh. Sao mà đốt nhau gấp. Tào Thực mượn hình ảnh dùng cành đậu để đun nước luộc hạt đậu để nói về cảnh anh em trong nhà đấu đá, chém giết lẫn nhau thật bi thảm. Bài thơ đã làm Tào Phi cảm động và tha chết cho Tào Thực.

Sài Gòn- Thị thành hoang dại [Khải Đơn] – phần 4

 Không gắn bó, không quê hương

 Billy Ngô

Thật khó chịu khi không có một chút gắn bó nào cạnh nhau. Sài Gòn đem lại cảm giác bấp bênh tối thượng đó. Hai người bạn thân không hề biết quê nhà, bố mẹ của nhau nơi nào.

Một người thầy không biết xuất thân, lai lịch thằng học trò, cũng cặm cụi dạy nó thành nghề trong những đêm thức khuya trong xưởng. Cạnh cốc bia khề khà ngoài bờ kè, người ta bày cho nhau những mánh lới làm ăn – mà không mảy may quan tâm kẻ đang học nghề kia có thể sẽ cướp mất miếng ăn của mình khi thành nghề.

Bởi những con người đã cố gắng đến đây, chung sống với nhau trong cuộc mưu sinh dài vất vả và nặng ước vọng. Họ đã không kịp hỏi nhau liệu có ai là gốc ở Sài Gòn hay không, quê quán ở đâu. Họ không kịp dành thời gian để phân biệt đứa Sài Gòn, đứa không Sài Gòn, đứa nào chất, đứa nào gốc. Chất gốc là một thứ gì đó xa lạ và đầy khoe mẽ, tuyệt không phải do người lớn từ lâu ở vùng đất này sinh ra. Sự phù du của nguyên quán bị thổi tung thành tro bụi. Bất cần lai lịch, giữa thành phố, khi nhìn mặt nhau, người ta đánh giá nhau bằng hành xử nghề nghiệp, bằng cách chơi, bằng những hệ quả tự họ nếm trải. Lời xầm xì tỏ tường gốc tích không có chỗ dung thân. Chúng ta là người lạ mà.

Tôi nhận ra bạn mình người Sài Gòn ở những câu chuyện kể: ngày xưa đi mướn video xem, hồi đi học ăn bò bía ở Ngô Thời Nhiệm, chỗ đó Quận 6 hồi xưa là kênh không mà, lấy gì không ngập, hồi cấp ba ăn nằm lê lết ở trường đua Phú Thọ… Ở thành phố, không ai mất thì giờ để khẳng định tên tuổi qua những tính từ hầm hố và kì thị người khác, để được nâng mình lên cao hay tách biệt mình ra khỏi cái tủ kính sang chảnh của nguồn gốc. Vì ai cũng bận.

Ở Sài Gòn hãy nghe còi xe từ hai giờ rưỡi sáng, nơi giấc ngủ cắt ngắn lại nhường đường cho làm ăn. Khi phải tất tả xây đắp ước mơ, không ai kịp phân biệt và thù ghét một người khác vì cái nhãn tên vùng miền và xuất thân xa lạ. Cần đồng đội, cần đối tác, cần cả đối thủ… Cần làm ăn với nhau.

Người xung quanh sẽ gật gù chúc mừng một một cô bán vé số miền Tây khoe con trai thi đậu vào Bách Khoa. Cô sẽ bán vé số cùng cậu trai và học hết đại học ngon lành – không có giới hạn cơ hội nào như những đứa trẻ ở quê, ở tỉnh, cần là con ông cháu cha để có một cuộc đời tốt đẹp. Cơ hội luôn sẵn sàng dành cho một gã thanh niên lái xe Wave cùi, đeo sandal cũ, nhưng việc gì cũng xông xáo nhận làm. Người ta phải chùng lời khi dấy lên ý nghĩ muốn xem thường hoặc kỳ thị một “đối tác” còn quê mùa trong từng cử chỉ, cách cầm dao nĩa. Đó có thể là một ông chủ ngon lành nào đấy chỉ vài năm sau – nhờ quá chăm chỉ làm việc với sản phẩm ông tạo ra.

Một ông già từng ngồi kể tôi nghe xuất xứ của từ “ông ba bị”- kiểu hình ảnh ghê rợn doạ nạt con nít quấy khóc không chịu ăn đó, xuất thân từ truyện kể những người mất quê hương, mang ba cái túi, bỏ xứ sở mà đi, mưu sinh tội nghiệp và đơn độc biêt bao. Hình ảnh cũ ăn sâu vào tâm trí đến mức trở thành “biểu tượng” để người lớn cho con ăn rồi chỉ trỏ hù doạ vậy, nhưng kỳ thực nó là ý thức “ra đi” cứ mãi mãi đau đáu trong con người xứ Nam kỳ: không quê hương, rời bỏ, cô thế, đơn độc, tìm một chốn náu thân, đỡ lấy vai nhau khi cần tựa vào.

Những người đến thành phố như tôi, chẳng có gì khác “ông ba bị” trong truyện kể. Không thể níu nhớ một quá khứ vất vả, không dám nhìn nhau ghét bỏ giận thù, không đủ can đảm rào giậu bản thân sau một lớp phân biệt nặng mùi đe doạ. Chúng tôi phải sống cùng nhau, và yêu nhau để sống.

Xứ sở này, mềm như hàng nghìn lạch nước đưa những chiếc xuồng lênh đênh từ đồng này sang gò khác, từ vườn nhà đến thành thị, từ những xuồng hoa cuối năm đến thị thành hỗn loạn.

Không gốc gác, không mái nhà, kẻ khách lạ nương tựa vào nhau, gỡ bỏ mặt nạ và nỗi sợ, cố gắng hiền lành để không làm tổn thương chính mình trong cuộc chiến không cân sức với người lạ mà mình chưa biết.

Vô tình người trở nên xúc động giàn giụa nước mắt trước một bà lão bán vé số đứng khóc vì bị giật mất hàng. Tim hào phóng hơn khi bớt đi điếu thuốc hút để chìa cho cậu trai đánh giày thèm thuồng một hơi. Sự hung hãn cụp xuống, tự réo gọi người ta câm nín bỏ đi trước cuộc va quẹt xe máy báo hiệu điều xung đột nguy hiểm. Cô hàng trà đá ngoài vỉa hè, chùng tay rót nước hào phóng, rồi tiện miệng lắc đầu bảo không lấy tiền khi ông già đẩy xe lăn qua mua nước giữa trưa. Sợ cô đơn. Sợ tuyệt vọng. Người ta tự thắp hi vọng vào tim người khác để tự ấm mình, khỏi cảm thấy lạc lõng khôn xiết giữa bức tranh không nhà cửa hỗn loạn của thị thành.

Thôi ở đây xa mút mùa những tai tiếng, rời khỏi mớ kỳ vọng lùng nhùng của họ tộc, bứt bỏ niềm ân hận bể vụn đã gây ra cho mẹ cha. Người phải sống. Phải luôn tay đổ mồ hôi làm việc. Phải cười, để nhìn nhau không… thấy ghét.

Sống như chính mình ao ước…

Dù không quê hương.

Như hoa, như sương lại như gió – Vương Thinh [chương 3.1]

Chương 3: Ai phản bội ai. Giang thành biến động

 

View this post on Instagram

"Đột nhiên, nàng sững người. Vết thương ngâm ngẩm đau trên lưng cứ như bị ủi nóng trong nháy mắt, bắt đầu bỏng rát, ngay cả mảnh ấm áp bị thiếu hụt giờ cũng được tìm thấy và lấp lại đầy đủ, nó khiến nàng không thấy đau nữa, đồng thời cũng khiến nàng không thể nhúc nhích nổi. Có lẽ trong cuộc đời, nàng sẽ quên rất nhiều chuyện, nhưng nhất định sẽ ghi nhớ từng có một người đàn ông không dành nụ hôn đầu cho môi nàng, mà là lên vết thương đang băng bó chằng chịt trên vai." [NHƯ HOA NHƯ GIÓ LẠI NHƯ SƯƠNG – VƯƠNG THINH] #NhưHoaNhưGióLạiNhưSương| #VươngThinh | #SáchHayTháng1

A post shared by AmunBooks (@amunbooks) on

 

Mấy ngày liền, Tiết Vân Tần không ngừng chạy như con thoi đến thành ủy để hoàn tất một số thủ tục, mong sớm thích ứng với công việc. Hôm nay, vừa vặn không có chuyện gì quan trọng nên sau khi dùng cơm trưa, hắn liền ra ngôi đình mà mình vẫn thường đến, che báo lên mặt nghỉ ngơi trong giây lát. Tiểu Cửu thấy hắn không cần chạy đôn chạy đáo cả ngày nữa thì lòng thầm hân hoan. Cô vui vẻ bưng một cái khay tới, trong khay là một đĩa nho xanh không hạt mà hắn yêu thích, một đĩa ngó sen tẩm đường và một đĩa bánh ga tô hương bơ mà cô đã đến tận nhà hàng Tây mua về nữa.

Đúng lúc này, Đoàn Tư Kỳ tất tả đi tới, nhìn thấy cử chỉ thân mật của hai người, nàng ngượng ngùng cúi gằm mặt, nói: “Cậu Vân, bà Ba sai tôi mời cậu ra đình đằng kia ngồi chơi một lát, hôm nay vừa mới mang dưa mật tới, bà đợi cậu sang đó thưởng thức.”

“ Biết rồi.” Tiết Vân Tần vỗ nhẹ vào lưng Tiểu Cửu, ra hiệu cho cô đứng dậy. “Tiểu Cửu, em thay anh qua đó nhé. Anh thấy hơi đau đầu, không tiện đi lại, anh ở đây đợi em mang mấy miếng dưa về đấy.”

Tiểu Cửu ưỡn ẹo hột hồi mới miễn cưỡng đứng dậy. Đoàn Tư Kỳ thấy Tiểu Cửu đi rồi liền vội vàng chạy theo nhưng lại bị Tiết Vân Tần kéo tay áo lại. Nàng quay người, nhẫn nhịn hỏi một câu: “Cậu Vân còn gì sai bảo sao?”

Tiết Vân Tần mỉm cười, nói: “Cô đã xem xong cuốn sách tôi cho mượn chưa? Hoài Dung có tận tình chỉ bảo cho không?”

Không nhắc lại chuyện cũ thì thôi, vừa nhắc đến nàng đã không nén được lửa giận thầm nung nấu trong lòng mấy ngày nay, tuy ngoài miệng không dám trách móc nhưng thoáng chốc sắc mặt đã sa sầm.

“Nào dám xem. Cuốn sách bị cậu chủ đốt rồi.” Nàng cong môi đáp, thể hiện thái độ bất mãn với kẻ hãm hại mình.

“Ô, đốt thật à? Thôi vậy, chỉ cần sau này cậu ấy chịu dạy cô thì cũng không hoài công tôi vắt óc nghĩ kế giúp cô.”

Thấy “kẻ đầu sỏ tội lỗi” không những không ân hận nhận lỗi mà lại vênh vang như thể vừa lập được công lớn, Tư Kỳ thực không hiểu nổi “công” của hắn ta ở đâu.

“Công ư? Suýt nữa tôi đã bị cậu chủ quét ra khỏi nhà rồi đấy.”

“Không thế thì cô nghĩ cậu chủ sẽ tốt bụng dạy học cho cô chắc? Con mọt sách ấy không có hứng với bất kỳ thứ gì ngoài sách đâu. Cô ấy à… phải cảm tạ tôi ngàn lần ấy chứ.”

Nói rồi, Tiết Vân Tần ngắt một trái nho cho vào miệng. Trong một khoảnh khắc, hắn phát giác ánh mắt của Tư Kỳ đang vờn quanh đĩa bánh ga tô trong khay, ngay cả cơn giận khi nãy cũng đã tan thành mây khói, hắn liền chìa đĩa bánh ra hỏi nàng: “Chưa nhìn thấy thứ này bao giờ à?”

“Nhìn thấy rồi. Trước đây tôi có nhìn thấy trong tiệm bánh của bọn Tây ở đường tô giới Anh. Bao nhiêu người đứng xúm quanh nhà bếp, tò mò nhìn vào trong, khi ấy còn không biết thứ này có ăn được hay không.” Tư Kỳ thật thà đáp.

Hôm đó, nàng theo mẹ đi giao hàng ở tiệm may, đúng lúc đi ngang qua tiệm bánh. Đứng cách đó rất xa nhưng Tư Kỳ vẫn ngửi thấy mùi thơm. Khi ấy, nàng vẫn còn nhỏ, nghe người ta nói món ấy ăn được thế là cứ nằn nì đòi mẹ mua, cuối cùng bị ăn ngay một cái bạt tai.

“Thế cô biết cách ăn thứ này không?” Tiết Vân Tần lấy tay khoét một miếng kem, thoa lên môi nàng rồi đưa vào miệng mình. Vừa buông tay, ý cười đã hiện lên rạng rỡ trên mặt hắn. “Thấy chưa? Bánh của Tây phải ăn theo cách của Tây.”

Mặt Đoàn Tư Kỳ đỏ bừng lên, nàng vội vàng quệt miếng kem trên môi, không dám liếm trộm một cái nào.

“Cậu Vân, cậu thật là… Làm gì có cách ăn ấy!” Nàng trách hắn, mặt mày càng lúc càng đỏ rần rần, không sao kiểm soát nổi.

Tiết Vân Tần giả vờ hỏi lại: “Tôi làm sao? Người Tây khi chào hỏi còn thân mật áp má vào nhau, nói gì đến cách ăn. Người ta ở đất nước khác nên phong tục tập quán cũng khác với chúng ta. Chuyện này đâu có gì kì lạ mà cô nói cứ như thể tôi là tên háo sắc không bằng thế.”

Nói xong, hắn lại chưng ra vẻ mặt trách móc rồi vờ giận dỗi ngồi sang mé bên kia đình nhưng mắt vẫn liếc trộm, thấy Tư Kỳ líu ríu bước tới gần mình với vẻ đầy áy náy.

“Tôi… tôi không có ý đó. Chỉ tại tôi không rõ phong tục của người Tây nên mới trách cậu.”

“Nếu cô nuốt được mấy lời đó xuống bụng thì tôi sẽ nguôi giận.” Tiết Vân Tần bướng bỉnh nói, cố ý làm khó nàng.

Đoàn Tư Kỳ nghĩ nát óc vẫn không biết làm cách nào để thu hồi lại lời nói đã trót buông ra, thầm nhủ “rõ ràng cậu Vân cố tình làm khó mình đây mà”. Thì ra cậu Vân mà nàng vẫn ngỡ là tính tình hiền hòa và dễ gần cũng không sửa được cái tật cố hữu của đám công tử nhà giàu.

“Sao hả, không nghĩ ra à?” Lông mày Tiết Vân Tần khẽ nhướng lên, rõ ràng là ánh mắt khinh thị nhưng sao lại đa tình nhường ấy. “Để tôi gợi ý cho cô nhé. Cô chỉ cần ăn một miếng bánh ga tô theo phong cách Tây thì tôi sẽ tha lỗi. Nếu không… nha đầu nhà cô đã phạm phải một lỗi, đó là đắc tội với chủ.”

Hắn vừa dọa nàng vừa đưa ngón tay nghịch ngợm, vân vê bím tóc trước ngực nàng rồi tiện tay giật luôn sợi dây buộc tóc màu đỏ xuống. Sau đó, hắn giơ sợi dây lên, vung vẩy để nó hết đưa sang trái rồi lại sang phải trước mắt Tư Kỳ lúc này đang hoảng hốt, luống cuống buộc lại đuôi tóc.

“Nếu cô không ăn nhanh là tôi làm căng thật đấy.” Tiết Vân Tần thúc giục.

Đoàn Tư Kỳ đứng trước bàn, mắt nhìn chằm chằm vào đĩa bánh ga tô trong khay. Mảnh ký ức thơm mềm của thuở thiếu thời giờ đang ngóc đầu đợi nàng biến ảo ảnh thành sự thật, vậy mà không hiểu sao nàng lại thấy như tắc nghẹn ở cổ, chỉ sợ thực sự nuốt mất giấc mơ này. Sau cùng, nàng hạ quyết tâm, đưa tay quệt một miếng kem ở rìa chiếc bánh. Ngón tay nàng run rẩy chạm vào chiếc bánh ga tô thơm ngon chẳng khác nào đang chạm vào một bánh pháo.

Khó khăn lắm nàng mới lấy được một chút kem nhưng ánh mắt của Tiết Vân Tần cứ dính lấy ngón tay nàng như thể ngầm nhắc nhở nàng đừng quên quy tắc ăn bánh của người phương Tây. Không còn cách nào khác, nàng đành miễn cưỡng bước tới gần nhưng vẫn ngại đến nỗi không dám giơ tay lên, cứ cảm thấy mình thật lẳng lơ.

Đột nhiên, Tiết Vân Tần nắm lấy cổ tay nàng, đưa lên miệng mình thoa một vòng rồi đẩy trả lại, ép nàng ăn nốt chỗ kem còn dính trên đầu ngón tay. Thoáng chốc, mặt Tư Kỳ nóng ran lên, dù đã hít sâu mấy hơi nhưng vẫn không áp chế được sự hồi hộp không biết từ đâu ập đến. Người đột nhiên xuất hiện, bánh ga tô đột nhiên xuất hiện, cả tiếng tim đập loạn nhịp cũng đột nhiên xuất hiện. Tất cả mọi thứ đều quá đỗi ngông cuồng và phóng túng.

Nhìn nét mặt như cười như không của Tiết Vân Tần, Tư Kỳ cố tình lùi ra xa. Không biết thứ nàng vừa ăn là sự ngọt ngào hay thấp thỏm, dường như trong giấc mơ thuở thơ ấu, chiếc bánh đó thơm ngon hơn thứ mà nàng vừa ăn rất nhiều. Thì ra giấc mơ chỉ dành để hoài niệm chứ không phải là thứ ta có thể giành lấy được, giống như mùi vị chiếc bánh mà nàng mới ăn hôm nay hoàn toàn không phải mùi vị mà nàng từng tưởng tượng ra trong mơ.