Như hoa, như gió lại như sương – Vương Thinh [chương 1.2]

Quy Phác Viên là nơi ở của một mình cậu chủ Đỗ Hoài Dung. Khác với Vinh Thọ Viên là nơi lão gia và các phu nhân ở, Quy Phác Viên được thiết kế theo kiểu kiến trúc cổ, trông rất mộc mạc.

Trên đường đến Quy Phác Viên, thím Vương kể cho Đoàn Tư Kỳ nghe một lượt những chuyện từng xảy ra trong phủ họ Đỗ. Lúc ấy Tư Kỳ mới biết, thì ra Đỗ Hoài Dung là “dòng giống” duy nhất của bà Hai, là con trai thứ trong phủ. Trước đây, bà Cả cũng có con trai và cậu Cả được lão gia vô cùng yêu quý, tiếc là năm mười lăm tuổi, cậu Cả lâm trọng bệnh nên đã khăn gói về trời. Bà Cả quá đau buồn nên năm sau cũng nhắm mắt xuôi tay, để lại cô Ba tên là Hoài Bích. Năm ngoái, cô Ba đã ra nước ngoài du học, giờ vẫn chưa về. Còn bà Ba mới vào phủ năm kia, vẫn chưa sinh hạ được cô cậu nào. Tư Kỳ được sắp xếp để hầu hạ cậu Hai trong hoàn cảnh ấy.

Nhưng cậu Hai không dễ hầu hạ chút nào. Thím Vương tổng kết con người cậu Hai bằng ba tính từ: quái đản, cô lập và khó giao tiếp. Do từ nhỏ cậu chủ đã mắc bệnh viêm phế quản mạn tính, lại thường xuyên đau ốm nên mọi người trong phủ không cho ra khỏi phòng nhiều. Lâu dần, Đỗ Hoài Dung đâm quen với việc ngồi ngây người trong Quy Phác Viên, ngoài đọc sách và vẽ tranh ra thì chẳng còn thú tiêu khiển nào khác.

Thím Vương thấy cửa thư phòng hé mở, liền khẽ khàng bước qua hành lang, thò đầu nhòm vào trong, quả nhiên thấy một người đang ngồi vẽ. Thím Vương kéo Tư Kỳ tiến về phía trước một chút, cung kính vấn an: “Thưa cậu, nha đầu này tên là Tư Kỳ, bà sai đến hầu hạ cậu thay cho Quế Nhi. Cậu có gì cần dặn dò thì cứ nói với nó, nếu có chỗ nào chưa được chu đáo thì mong cậu rộng lòng đại lượng cho. Hôm nay là ngày đầu tiên nó vào phủ nên vẫn chưa thông tỏ các quy tắc lắm.”

“Chào cậu Hai, tôi… em là Đoàn Tư Kỳ. Sau này…”

“Biết rồi!” Đỗ Hoài Dung lạnh lùng ngắt lời nàng, chủ động dựng bức tường ngăn cách giữa mình và người hầu, phân chia rạch ròi ranh giới Hán Sở.

Đoàn Tư Kỳ sững người, liếc thím Vương cầu cứu. Thím Vương biết rõ tính cách kỳ quặc của cậu chủ nên chỉ ghé tai nàng dặn dò vài câu rồi viện cớ lui ra trước. Đoàn Tư Kỳ càng bơ vơ, không biết nên làm gì, chỉ biết ngây người đứng chôn chân ở cửa đợi cậu chủ sai bảo. Nhìn cậu Hai đang tập trung vẽ, nàng bất giác quan sát kỹ từ đầu đến chân anh một lượt. So với chàng trai mà nàng vừa nhìn thấy lúc trước thì cậu Hai trông gầy guộc, ốm yếu hơn, đặc biệt là chiếc áo khoác dài màu lam nhạt in chìm hình lá trúc màu xanh lại càng làm nổi bật dáng người mảnh khảnh của anh.

Nàng cứ thế đợi, chẳng ngờ đợi liền một mạch mấy tuần trà.

So với tốc độ thường ngày thì hôm nay, Đỗ Hoài Dung vẽ chậm hơn nhiều. Anh giơ bức tranh hoa và chim vừa vẽ xong lên, thổi nhẹ những chỗ chưa ráo mực. Vô tình ngước mắt lên nhìn, phát hiện Đoàn Tư Kỳ vẫn đứng ở ngoài cửa, mặt Đỗ Hoài Dung thoáng chốc hiện nét không vui. Anh sẵng giọng hỏi: “Sao cô còn đứng đó?”

Đoàn Tư Kỳ ngẩng đầu lên, lắp bắp giải thích: “Em… em không biết làm gì, hơn nữa… cha em từng nói, khi đọc sách, viết thư pháp, vẽ tranh hoặc chơi đàn thì điều cấm kỵ nhất là bị quấy nhiễu. Cho nên… em muốn đợi cậu vẽ xong.”

“Đúng là ngốc hết thuốc chữa!” Đỗ Hoài Dung lạnh lùng buông một câu rồi thong thả bước ra khỏi phòng. Lúc lướt qua mặt Tư Kỳ, anh hơi dừng lại một chút, mùi hương phảng phất lan theo tà áo. Tư Kỳ hít mũi, vô thức đuổi theo mùi hương. Nàng từng rất thích ngửi mùi hương này nhưng sau khi cha mất thì mùi hương đặc biệt ấy đã theo cha xuống nấm mồ sâu dưới lớp đất vàng đắp thành ụ, từ đó nàng không bao giờ ngửi thấy mùi hương ấy nữa.

Thế mà hôm nay, nàng lại ngửi thấy. Nhưng chẳng bao lâu sau, mùi hương đã tản mát trong không khí rồi dần dần biến mất hẳn, chẳng để lại chút nào cho nàng. Tư Kỳ vụt quay đầu, phát hiện bóng cậu chủ đã đi xa tự bao giờ.

Vầng dương đỏ rực xuyên qua những phiến lá long não, nhảy nhót trên thân hình mảnh dẻ của Đỗ Hoài Dung. Đi xa thêm một chút, cả người anh như tắm trong quầng sáng đó, nếu không có đôi mắt sáng ngời và trong veo đến nỗi không tia mặt trời nào có thể xoá mờ thần thái của chúng thì Tư Kỳ đã thực sự cho rằng anh sắp tan chảy trong ánh nắng mặt trời.

 

Hai ngày sau, Tư Kỳ dần dần nắm được thói quen hàng ngày của cậu chủ. Nhân lúc Đỗ Hoài Dung nghỉ trưa, nàng nhanh nhẹn quét dọn thư phòng. Đang lau chùi thì ánh mắt nàng chạm phải bức tranh nước xanh cuốn quanh núi biếc mà sáng nay cậu chủ mới vẽ. Trong một giây lơ đễnh, tay trái của Tư Kỳ bất giác chạm vào nghiên mực, làm vài giọt mực bắn vào cuốn tranh. Nàng cuống cuồng lấy tay lau, nào ngờ càng lau lại càng lem. Trong thoáng chốc, bức tranh tuyệt đẹp đã bị huỷ hoại hoàn toàn, ngay đến nàng cũng không nỡ nhìn. Đang lúc hoảng loạn thì nàng thấy cuốn tranh đột nhiên động đậy rồi bay thẳng qua tay nàng, kẹp chặt trong ngón tay của Đỗ Hoài Dung. Không biết cậu chủ đã quay lại thư phòng từ khi nào mà Tư Kỳ hoàn toàn không phát hiện ra. Trong khoảnh khắc đó, cả người nàng trở nên cứng đờ.

Đỗ Hoài Dung liếc nhìn bức tranh bị phá hỏng. Đó là bức tranh mà anh vẽ thuận tay nhất trong mấy ngày nay, thế mà giờ đã thành tờ giấy lộn, bảo sao anh không sa sầm nét mặt.

“Sau này cô không cần dọn dẹp thư phòng nữa!” Đỗ Hoài Dung mở ngăn kéo, lấy hộp diêm châm lửa đốt luôn bức tranh.

Lúc đó, không biết Tư Kỳ ăn gan hùm hay mật gấu mà dám thò tay ra dập lửa, nhưng tiếc là cậu chủ cố tình muốn huỷ bức tranh nên cuối cùng nó vẫn cháy thành tro. Nàng rụt bàn tay bị phỏng đỏ lại, khẩn cầu: “Cậu Hai, em biết mình không nên làm hỏng bức tranh của cậu. Nhưng lúc ấy em thực sự bị cảnh sắc trong tranh thu hút nên mới vô tình phạm phải sai lầm. Từ nay về sau, em… sẽ không bao giờ dám động vào đồ đạc của cậu nữa.”

Đỗ Hoài Dung cười khẩy, hỏi: “Cô có hiểu về hội hoạ không?”

Nàng lắc đầu.

“Đã không hiểu thì xem làm gì?”

Tư Kỳ á khẩu, đúng là nàng không nên xem chút nào. Sở dĩ nàng tò mò là vì nàng đang hoài niệm, cha nàng từng rất thích vẽ tranh, còn nàng, tiếng là con nhà thư hương nghèo kiết xác nhưng nàng chỉ biết mỗi bộ Tam Tự Kinh. Đó vốn đã là cả một sự đả kích, nay lại bị người ta giễu cợt như thế, lòng nàng càng buồn bã, nước mắt bất giác không ngừng tuôn rơi.

Đỗ Hoài Dung chau mày như thể điều anh không thích nhất chính là nước mắt con gái. Vốn định lên giọng dạy dỗ cô hầu gái thêm vài câu nữa nhưng cuối cùng anh lại im lặng.

“Chỉ có nhan sắc mà đầu óc trống rỗng thì phỏng có ích gì?” Đỗ Hoài Dung xua tay vẻ chán ghét, cuối cùng vẫn “miễn tội” cho nàng.

Tuy Đoàn Tư Kỳ rất cảm kích trước sự rộng lượng của cậu chủ nhưng không hiểu sao lòng nàng vẫn trĩu nặng. Không may nàng lại gặp ngay em họ của bà Ba, thiếu gia Tiết Vân Tần ở ngay hậu viện, chưa kịp tới vấn an thì cậu Vân đã đi lướt qua, dường như không nhìn thấy nàng. Nhưng chưa đi được bao xa thì đột nhiên Tiết Vân Tần dừng bước, gọi nàng lại, hỏi: “Cô tên là Tư Kỳ?”

Đoàn Tư Kỳ đứng lại, hoang mang gật đầu, đáp: “Vâng, thưa cậu Vân.”

“Ồ…” Vân Tần nheo mắt, đột nhiên chỉ lên má nàng, hỏi: “Sao thế? Nước mắt vẫn chưa khô này. Bộ dạng thế này mà dám chạy loăng quăng khắp nơi à?”

Nghe nói vậy, Đoàn Tư Kỳ lấy tay quệt vội lên mặt, nói: “Không phải đâu ạ. Tại hôm nay trời nóng quá nên ra nhiều mồ hôi thôi.” Kết quả bàn tay dính mực của nàng bôi lem luốc khắp mặt, khoảng trắng khoảng đen, trông như phường tuồng.