Ngắm hoa nở trong sương 4.1

Chương 4

 

 

Trong năm nội dung thi, thế mạnh của Ngải Mễ là đọc, dịch và nghe nói.

Đọc là thế mạnh do từ lâu các bài đọc trong tiếng Anh đã có kiểu thi trắc nghiệm. Ngải Mễ rất biết ơn người đã phát minh ra kiểu thi trắc nghiệm này, chắc chắc là phát minh cho những người làm gì cũng hậu đậu, vô tâm như cô. Bạn thử nghĩ mà xem, mấy đáp án đều đã đưa ra hết rồi, chỉ cần khoanh tròn là xong, còn việc nào dễ hơn việc khoanh tròn? Đến AQ cũng biết khoanh. Nếu bắt Ngải Mễ viết ra ý chính của bài thì rất có thể cô sẽ lạc đề, có khi lại viết sai mấy chữ cũng chưa biết chừng, nhưng nếu bắt cô lựa chọn một đáp án đã được người khác viết thì kể cả không hiểu, cô vẫn làm được tám mươi, chín mươi phần trăm.

Khi còn đi học, bạn bè cùng phòng đều ngưỡng mộ số cô may mắn, vì có một số đề, bốn câu chọn một, mọi người đều chẳng biết câu nào, toàn đoán mò, trong khi Ngải Mễ toàn mò đúng, còn người khác lại mò sai. Vương Hân, bạn cùng phòng với Ngải Mễ, thường nói cô có “số ăn cứt chó”, ở quê Vương Hân thường dùng cụm từ này để nói về người có số may mắn đến mức khó tin.

Dịch là thế mạnh của cô, có thể là vì bố mẹ cô, một người chuyên về tiếng Anh, một người chuyên về tiếng Trung. Ngay từ khi Ngải Mễ còn rất nhỏ, mẹ cô đã “tắm” tiếng Anh cho cô. Không những đặt cho cô một cái tên không ra Tây cũng chẳng ra Tàu, mà còn cố gắng nói tiếng Anh với cô, trong nhà chỗ nào cũng dán rất nhiều từ vựng tiếng Anh, dán vào bàn là “table”, dán vào cửa sổ là “window”, dán vào trước cửa ra vào từ “come”, mặt sau của cửa thì dán từ “go”…

Hồi nhỏ Ngải Mễ cũng rất thích phương pháp học dán giấy kiểu này, thường viết chữ “Dad” nghiêng ngả rồi dán lên lưng bố, khiến có hôm bố cô lên lớp mà còn mang theo chữ “Dad” sau lưng giảng bài thao thao bất tuyệt, bị sinh viên phát hiện ra rồi cả lớp cười nghiêng ngả. Có một lần, Ngải Mễ hớt hải chạy đi mách mẹ rằng “Dad” bị ngã từ trên nhà xuống đất, khiến mẹ cô được một phen suýt ngất, cuối cùng mới phát hiện ra là mẩu giấy ghi chữ “Dad” bị bay từ trên ban công nhà xuống đất rồi.

Còn bố Ngải Mễ thì rất tích cực “tắm” tiếng Trung cho cô, ngày ngày ông đều bắt cô học thuộc văn thơ cổ, luyện thư pháp, rồi còn phải viết nhật ký nữa, hơn nữa ngày nào cũng kiểm tra xem Ngải Mễ viết gì trong nhật ký, thế có còn gọi là nhật ký nữa không? Gọi là xã luận có khi còn phù hợp hơn. Và thế là ngay từ nhỏ Ngải Mễ đã phải viết hai cuốn nhật ký, một cuốn là “nhật ký cách mạng” để bố kiểm tra, cuốn “nhật ký phản cách mạng” kia mới được gọi là nơi thổ lộ tâm tình. May mà mẹ cô không bắt cô viết nhật ký bằng tiếng Anh, nếu không mỗi ngày cô sẽ phải viết bốn cuốn nhật ký.

Tình huống hay gặp nhất là, trong “nhật ký cách mạng”, cô nắn nót viết: “Tớ yêu bố tớ, yêu cả mẹ tớ…” Nếu viết trôi chảy quá thì ngày mai bố lại yêu cầu cao hơn.

Còn trong “nhật ký cách mạng” thì cô rầu rĩ than: “Thế gian này có cô bé nào đau khổ hơn mình không? Nỗi dày vò mà mình phải chịu đựng không những đến từ hai người, mà còn là Bilingual (hai ngôn ngữ)! Đến Anne Frank[1] cũng chỉ phải viết một cuốn nhật ký, còn mình thì phải viết những hai cuốn. Đen tối quá! Bi thảm quá! Thế này thì còn gì là người nữa!”

Tuy nhiên nỗi dày vò hai ngôn ngữ đã khiến sau này cô có kinh nghiệm hơn những thanh niên khác trong vấn đề dịch thuật, cô không còn hận bố mẹ mình nữa, bộ “nhật ký cách mạng” và “phản cách mạng” kia cũng không biết thất lạc đi đâu.

Kỹ năng nghe nói của cô cũng không tồi, là do Allan đã từng làm gia sư tiếng Anh cho cô một thời gian.

Còn kỹ năng viết thì phải xem gu của người chấm bài thế nào, người thích kiểu viết của cô sẽ nói văn phong khoáng đạt, người không thích sẽ bảo văn phong rườm rà, thế nên cô không dám chắc về môn viết.

Văn học cũng vậy, nếu là những vấn đề rộng và nông thì rơi đúng vào sở trường của cô, trên trời dưới đất, cổ kim đông tây, cô đều biết một số, toàn là những kiến thức sơ đẳng. Nếu bạn hỏi những vấn đề sâu thì cô cũng có thể phán được vài câu, đưa ra những lời đánh giá có vẻ như rất sâu sắc. Tuy nhiên nếu người nào chấm thi kĩ sẽ phát hiện ra đó không phải là câu trả lời sâu sắc mà chỉ cố làm ra vẻ uyên bác mà thôi. Người chấm thi không kĩ thì sẽ chẳng hiểu gì và chắc chắn sẽ không cho điểm cao.

Tập trung ôn thi cật lực một tuần rồi lại cật lực trải qua năm bài thi, sau đó lại chờ đợi mấy ngày trong sự hồi hộp, cuối cùng đã có kết quả: Bốn giảng viên của khoa đã qua được vòng sơ tuyển, cả bốn người này phải đến gặp giáo sư Harrod đến từ Học viện Harvard Yenching hiện đang ở thành phố N để tham gia vòng thi phỏng vấn. Vật lộn bao nhiêu thời gian như vậy cũng mới chỉ là bước được bước đầu tiên trong cuộc trường chinh ngàn dặm. Sao hồi đầu nghe cứ như là chỉ cần thi qua vòng của khoa là giành được học bổng của Harvard Yenching vậy?

[1] Anne Frank là một cô bé người Đức gốc Do Thái, trở nên nổi tiếng vì cuốn nhật ký của cô đã ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe trong thời gian chạy trốn ở Hà Lan – mảnh đất bị Đức chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai dưới ách thống trị của Đức Quốc Xã.

 

Đừng vội nói lời yêu 3.1

Chương 3

Yêu thầm là chuyện luôn suy tính thiệt hơn

 
Thư ký Dụ và Tô Lạc buồn bực trở về cơ quan. Thư ký Dụ bảo Tô Lạc vào phòng làm việc, chất vấn cô: “Tô Lạc, cô và người họ Tiêu đó rốt cuộc giở trò gì vậy?”

“Chẳng có trò gì hết.” Tô Lạc đáp.

“Tôi còn không quen biết cậu ta, sao cô có thể dính dáng đến người đó?”

“Anh ta là cháu ngoại của ông Đường.”

“Cháu ngoại ư? Vậy chuyện tối qua mà cô nhắc tới là ý gì?”

Tô Lạc không muốn giải thích. Cô cảm thấy nếu kể chuyện bị Tiêu Kiến Thành lừa đi uống rượu sẽ càng chứng tỏ bản thân ngu ngốc.

Thư ký Dụ không nghĩ phức tạp như vậy, chỉ lên lớp Tô Lạc: “Làm việc ở quỹ từ thiện, đặc biệt là công việc tổ chức quyên góp, điều quan trọng nhất là phải đứng đắn, nghiêm chỉnh, không để người khác bắt thóp của mình. Làm việc ở cơ quan này, cô sẽ gặp rất nhiều đối tượng có tiền và quyền thế nên phải hết sức cẩn thận. Nếu để chuyện cá nhân ảnh hưởng đến công việc, mọi người sẽ trở nên bị động. Cô là phụ nữ, càng cần xử lý tốt mối quan hệ giữa công việc và cuộc sống…”

Nghe ông ta nói vậy, Tô Lạc càng tức giận, liền quay người đi ra cửa.

“Này, sao cô lại bỏ đi? Tôi còn chưa nói xong cơ mà.” Thư ký Dụ rất không hài lòng.

Tô Lạc quay đầu. “Cháu phải đi tìm tên đó đòi đồ.”

“Cô tìm kiểu gì?”

“Cháu sẽ ngồi ở tòa cao ốc Hằng Đông đợi anh ta, đợi cho đến khi anh ta chịu quyên tặng mới thôi.” Tô Lạc nghiến răng.

Ưu điểm lớn nhất của Thư ký Dụ là chỉ cần ông ta không phải ra mặt, cấp dưới làm gì cũng được, vì thế bây giờ ông ta chỉ nhắc nhở: “Cô phải chú ý phương pháp làm việc, đừng để chuyện bé xé ra to.”

“Cháu biết rồi.” Tô Lạc gật đầu, cuối cùng cũng có thể rời đi.

Vừa về văn phòng của mình, Tiểu Tần lập tức sán đến hỏi: “Tôi nghe bọn họ nói đồ quyên tặng đã bị thu hồi?”

“Vâng.”

“Sao lại ra nông nỗi này?”

“Đều là lỗi của em.”

“Cô không nên mắng bọn họ.” Tiểu Tần chợt nhớ đến chuyện Tô Lạc làm ầm lên ở chỗ Hồ Tổng.

“Cũng không hoàn toàn vì chuyện đó.” Tô Lạc nghiến răng. “Tại em gặp phải một tên tiểu nhân, tên tiểu nhân bỉ ổi.”

“Hồ Đại Sơn đúng là quá vô liêm sỉ, chúng ta tiết lộ chuyện này với giới truyền thông cho ông ta chết.” Tiểu Tần nói.

“Ông ta chưa là gì cả, có kẻ còn vô lại hơn.” Tô Lạc cuộn tay thành nắm đấm.

Bắt gặp bộ dạng phiền não của cô, Tiểu Tần tỏ ra hứng thú, thì thầm: “Cô sao thế? Còn ai nữa? Xảy ra chuyện gì vậy? Cô bị ai bắt nạt à? Bị thất tình hay thất thân?”

Tô Lạc dở khóc dở cười, đang chuẩn bị phản bác thì đằng sau đột nhiên vang lên tiếng đồ vật nặng rơi xuống nền nhà. Cô liền quay đầu về hướng đó. Một chiếc ba lô cũ kĩ đang nằm dưới đất. Một người đàn ông đứng bên cạnh. Anh mặc bộ quần áo bạc màu, gương mặt bụi trần mệt mỏi. Mặc dù vậy, người đàn ông này vẫn toát ra khí chất ung dung, yên bình.

“Dương Nhuệ, cậu đã về rồi à?” Cùng lúc đó, Tiểu Tần vui mừng hét lớn.

Nghe tiếng Tiểu Tần, Dương Nhuệ gật đầu chào chị, nhưng ánh mắt của anh lại hướng về Tô Lạc.

Sau đó anh lên tiếng: “Tô Lạc, đã lâu không gặp.”

Tô Lạc còn chưa kịp trả lời, Thư ký Dụ đã từ phòng làm việc đi ra ngoài, cất cao giọng: “Dương Nhuệ về rồi đấy à? Mau vào văn phòng tôi một lát.”

Dương Nhuệ đành đi vào phòng của Thư ký Dụ. Ông ta nhiệt tình kéo anh, thuận tay đóng cửa.

Chiếc ba lô bám đầy bụi đất vẫn lặng lẽ nằm trên sàn nhà. Tô Lạc nhìn nó, có chút thất thần.

Tiểu Tần cất giọng bực tức: “Cái cậu Dương Nhuệ sao chỉ chào hỏi cô? Nói với chị một câu sẽ chết à? Tốt xấu gì chị cũng từng là bạn học của cậu ta.”

“Chị với anh ấy có phải bạn học đâu, vì chuyên ngành hoàn toàn khác nhau.”

“Sao không phải, cùng học một trường cả. Trường của bọn chị bé bằng lỗ mũi, vì thế anh chàng đẹp trai nào cũng trở thành tài sản chung của đám nữ sinh.”

Tô Lạc phì cười. “Thế nào gọi là chung?”

“Hừm…” Tiểu Tần ngẫm nghĩ một lúc. “Thì… buổi tối trước khi đi ngủ tán gẫu về đối phương.”

Chuyện này mới mẻ đây, Tô Lạc tỏ ra hiếu kỳ. “Anh ấy có nhiều chuyện để các chị tán gẫu sao?”

“Tất nhiên rồi.” Tiểu Tần ra vẻ thần bí. “Cô nên biết, trường Sư phạm của bọn chị nữ nhiều nam ít, cậu ta lại là chủ tịch hội sinh viên, không biết bao nhiêu nữ sinh muốn lao vào vòng tay cậu ta. Bạn gái của cậu ta, về cơ bản… mỗi tháng thay một cô.”

Tô Lạc mở to mắt. “Nhiều như vậy à? Sao trước đây em chưa bao giờ nghe chị nhắc đến chuyện này?”

“Có lúc cậu ta còn bắt cá hai tay, mấy cô nữ sinh vì cậu ta mà quyết đấu với nhau ấy chứ!”

“Quyết đấu ư? Đấu thế nào? Chắc chị nói đùa phải không?” Tô Lạc không tin nổi.

Tiểu Tần tỏ ra nghiêm túc. “Đã biết chị nói đùa, sao cô còn hứng thú như vậy?”

Lúc này Tô Lạc mới biết Tiểu Tần trêu mình. Cô mỉm cười đánh chị. Tiểu Tần lùi lại né tránh, giẫm phải cái ba lô của Dương Nhuệ, suýt vấp ngã.

Tô Lạc vội đỡ chị. Tiểu Tần khó khăn lắm mới đứng vững, liền đá cái ba lô đó. “Không biết đựng đồ gì mà nặng thế?”

“Ừ.” Tô Lạc gắng sức kéo chiếc ba lô ra một góc. “Cái này cũ quá rồi, phải đổi cái mới thôi. Lần trước chúng ta tổ chức sự kiện, hình như vẫn còn một cái giống thế này, để em đi tìm cho anh ấy.”

“Cô đừng tùy tiện đổi ba lô của cậu ấy.” Tiểu Tần ngăn cô lại.

“Tại sao?”

“Chiếc ba lô này là của bạn gái cũ tặng cậu ấy vào dịp sinh nhật nên có ý nghĩa đặc biệt.”