Ngắm hoa nở trong sương 1

Chương 1

Trong chuyến bay từ Trung Quốc sang Mỹ, Ngải Mễ thực sự không biết viết gì, một là không có bộ phim nào khiến cô tức cảnh sinh tình, hai là trên đường đi, cô buồn ngủ díp mắt, gần như không còn đủ tỉnh táo để ôn lại chuyện cũ, ít nhất là không tỉnh táo đến mức có thể nhớ lại và viết ra được mấy chục, mấy trăm nghìn chữ. Có lẽ do mấy ngày trước, cô phấn chấn quá nên ngủ không ngon, do đó lên máy bay là bắt đầu ngủ gật.

Kể cả những lúc không ngủ thì đầu óc cô cũng chẳng nảy ra được ý tưởng gì, thế nên đối với cô, chuyến bay quốc tế đường dài này tựa như con rồng Trung Quốc, “ngủ yên hàng trăm năm”, đến thành phố Detroit thuộc tiểu bang Michigan mới “bừng tỉnh”.

Người ra đón cô đương nhiên không phải là Jason, nếu là Jason thì câu chuyện đã không được viết thế này. Hơn nữa, đối với một người năm, sáu năm trước mới chân ướt chân ráo từ Trung Quốc sang Mỹ như Ngải Mễ, cái tên Jason không có ý nghĩa đặc biệt gì, vì chàng trai mà cô quen, tên tiếng Anh không phải là Jason mà là Allan, dĩ nhiên tên tiếng Trung không phải là Giang Thành, mà là Thành Cương. Jason và Giang Thành đều là tên anh dùng sau này, có thể là do muốn né tránh người quen, hoặc là muốn thể hiện quyết tâm đã cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, thay đổi hoàn toàn, làm lại từ đầu.

Bất luận là nguyên nhân nào, Ngải Mễ đều cho rằng đáng phải tét mông.

Hồi mới sang Mỹ, Ngải Mễ còn chưa biết Allan đang học ở trường Đại học C mà cô chuẩn bị đến. Lâu lắm rồi cô không có tin tức gì của anh và cũng lâu lắm rồi cô không bỏ công tìm hiểu thông tin về anh. Tục ngữ nói: “Không có điều gì bi ai hơn trái tim đã chết”, Ngải Mễ không muốn để trái tim mình chết đi nên đã tự an ủi mình rằng: “Coi như anh ấy đã chết.”

Nhưng cô cũng chỉ “coi như” được một lúc, cô biết chắc chắn là anh chưa chết mà đang sống ở một vùng đất nào đó tại Trung Quốc. Anh có khả năng đặt chân đến mọi tỉnh thành, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương của Trung Quốc, chỉ duy có ra nước ngoài là không thể, vì anh học văn học so sánh, và ở Trung Quốc, rất nhiều người làm nghiên cứu văn học so sánh đều rơi vào khoa Văn, mà người ở khoa Văn thì làm sao ra nước ngoài được? Dĩ nhiên là cũng có, nhưng thường phải đổi ngành, nếu không, vượt ngàn dặm xa xôi sang Mỹ học tiếng Trung hoặc văn học Trung Quốc thì quả là chuyện rất khôi hài.

Khi làm nghiên cứu sinh với thầy hướng dẫn là bố Ngải Mễ, đề tài mà Allan làm là nghiên cứu thi học, nhưng bạn đừng nghĩ anh ấy là một nhà thơ, như lời anh ấy nói thì anh ấy không những không phải “nhà thơ”, mà ngay cả người viết tản văn cũng không phải, cùng lắm thì cũng chỉ được coi là “nhà tạp văn”.

Thi học (Poetics) thực ra có nghĩa là lý luận văn học, hay nói cách khác, Allan làm nghiên cứu so sánh về lý luận văn học của Trung Quốc và phương Tây. Anh ấy nói, khoảng cách giữa anh với nhà văn và tác phẩm có thể dùng cụm từ “bắn đại bác bảy ngày chưa tới” để so sánh, vì những người làm phê bình văn học đều thích chỉ trích, phê bình những tác phẩm văn học mà người khác phải mất bao tâm huyết mới viết ra được, còn người làm nghiên cứu so sánh lý luận văn học lại chỉ tay năm ngón đối với những bài phê bình văn học mà các nhà phê bình hao công tốn sức viết ra. Vậy ai sẽ là người vạch lá tìm sâu với những người làm nghiên cứu so sánh lý luận văn học đây?

Ngải Mễ nói: “Dĩ nhiên là người yêu hoặc vợ họ thôi, thế nên mới nói các cô này chính là thẩm phán cuối cùng của các tác phẩm văn học.”

Không thích chỉ tay năm ngón với người khác là nguyên nhân khiến Allan phải từ bỏ con đường nghiên cứu văn chương để theo ngạch kinh doanh. Câu nói mà anh tâm đắc là: Bản thân mình không viết ra được những tác phẩm văn học hay thì thôi, lại còn già mồm chỉ trích, phê phán tâm huyết, công lao của người khác ư? Như thế cũng hơi quá đáng thật! Còn những người đi theo ngành nghiên cứu so sánh lý luận văn học thì chỉ tay năm ngón trước những bài viết chỉ tay năm ngón của người khác, như thế lại càng quá đáng hơn.

Những lúc bên nhau, Allan thường hỏi Ngải Mễ rằng, nếu thế gian này không có phê bình văn học thì văn hóa Trung Quốc sẽ không tồn tại ư? Nếu không có ai đánh giá, bình luận về bộ Hồng lâu mộng thì không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra nhỉ?

Ngải Mễ không trả lời được những câu hỏi kiểu này, nhưng hồi ấy Ngải Mễ trẻ trung, hiếu thắng, không bao giờ chịu thừa nhận thế gian này lại có câu hỏi mình không trả lời được, thế nên lúc nào cũng đáp rất hùng hổ: “Nếu không có ai bình luận, đánh giá về Hồng lâu mộng thì các nhà “Hồng học” mưu sinh kiểu gì? Nếu không có phê bình văn học thì bố em dựa vào nguồn nào để kiếm tiền nuôi gia đình?”

Allan liền cười, nói: “Ghi lại câu này nhé, sau này khi biên soạn cuốn Danh ngôn Ngải Mễ nhớ đưa vào đấy.”

Thế nên Ngải Mễ cho rằng Allan là công dân yêu nước hạng nhất, dù có đánh chết cũng không ra nước ngoài. Sau khi bố mẹ Allan di cư sang Canada, họ đã nhiều lần khuyên anh sang đó, làm visa thăm thân hay visa công tác đều được, tóm lại là chỉ cần ở gần bố mẹ là được. Nhưng Allan không đồng ý, anh nói: “Một người học tiếng Anh, học Văn như con, sang đó thì làm được gì? Sang dạy người Canada nói tiếng mẹ đẻ của họ hả? Hay là dạy họ văn học Trung Quốc?”

Tinh thần yêu nước này là đáng biểu dương, thời điểm ấy, Ngải Mễ cũng rất ủng hộ, vì cô không muốn anh sang Canada, sợ anh mà đi thì cô không bao giờ gặp lại anh nữa, thế nên lần nào cô cũng nhiệt tình tán thành suy nghĩ này của anh, đọc được câu chuyện nào viết về người Trung Quốc di cư sang Canada nhưng cuộc sống chẳng ra gì là lại mang ra, thêm mắm dặm muối kể cho anh nghe. Đầu tiên anh còn chăm chú nghe, nhiều lần như vậy, anh liền trêu cô: “Ngải Mễ, em không cần phải làm công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước với anh đâu, anh sẽ không bao giờ đặt chân sang đó. Chỉ sợ một ngày nào đó em lại thay đổi ý định và chạy ra nước ngoài thôi.”

Lời nói đùa lại biến thành lời sấm truyền, bây giờ đúng là cô xuất ngoại thật.

Ngải Mễ nghĩ, hoàn cảnh của cô khác Allan, cô học văn học Anh Mỹ, cô không ra nước ngoài thì còn ai ra? Lấy bằng tiến sĩ văn học Anh Mỹ trong nước, có ai coi ra cái gì đâu?

Nếu đã học văn học, ngôn ngữ của người ta thì phải sang đại bản doanh của người ta học. Từ lâu Ngải Mễ đã hạ quyết tâm sang Mỹ học tiến sĩ nhưng cũng như mọi quyết tâm khác của cô, lúc nghĩ thì rất hào hứng, quyết tâm cao độ, đợi đến khi phải bắt tay vào công việc thì lại sợ khổ, sợ chết, sợ mệt, sợ thua, sợ thế này, sợ thế kia, vậy là hồi lâu vẫn án binh bất động. Sau đó, một cơ hội tình cờ đã khiến cô thực hiện được quyết tâm sang Mỹ này.

 

 

 

 

Đừng vội nói lời yêu 1.4

Tâm tư của Tô Lạc đã trôi về một nơi rất xa. Điện thoại vang lên giọng nữ máy móc: “Xin lỗi, thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được…”

“Đúng là nhiều lúc sóng di động chẳng ổn định gì cả.” Một giọng nói đột nhiên vang lên, cắt đứt mạch suy nghĩ của cô.

Tô Lạc bừng tỉnh, lại là Tiêu Kiến Thành.

Anh ta nhìn cô, thành khẩn kiến nghị: “Cô có thể quyên góp xây dựng một trạm thu phát gốc[1] ở đó, như vậy sẽ không xảy ra tình trạng vừa rồi nữa.”

 

“Tiêu Tổng, thứ nhất, tôi là người nghèo, không có tiền để quyên góp. Thứ hai, buổi đấu giá đã kết thúc, anh có thể về nhà nghỉ ngơi được rồi.” Nghe ra sự châm biếm của đối phương, Tô Lạc cũng không khách khí.

Tiêu Kiến Thành chẳng để bụng, lại nói: “Cho tôi số di động của cô. Cô yên tâm, sóng điện thoại của tôi rất tốt.”

“Cho để anh làm gì?”

“Lần sau nhỡ tôi muốn quyên tiền thì sao?”

“Anh hãy gọi 114, nhờ chuyển đến văn phòng của chúng tôi.”

“Nếu tôi uống say thì sao?”

“Anh hãy đi khách sạn, tìm mấy cô gái hầu rượu.”

“Nếu tôi muốn bị nhân viên của quỹ từ thiện chuốc say, sau đó bỏ một triệu chín trăm ngàn mua hai cái bình hoa thì sao?”

“Anh không còn cơ hội, bình hoa đã bán rồi.”

“Đáng tiếc thật đấy! Lần sau, nếu bên cô bán tách trà hay bát đĩa gì đó, không biết chừng tôi đủ khả năng mua. Cô hãy cho tôi số điện thoại của cô đi, để tôi đỡ phải đi đường vòng, hoặc đi tìm Hồ Đại Sơn.” Tiêu Kiến Thành tỏ thái độ phải có bằng được, nếu cô không cho, anh ta sẽ tìm qua người khác.

Tô Lạc cảm thấy một sự chán ghét vô cớ. Tại sao trên đời luôn có những người đàn ông vô vị bám lấy cô?

Biết không thể tránh khỏi, Tô Lạc đành đọc số của mình. Nhân lúc anh ta cúi xuống nhập thông tin, cô liền bỏ đi.

Vừa đi hai bước, di động lại đổ chuông. Cô bắt máy, giọng Tiêu Kiến Thành truyền tới: “Đây là số của tôi, cô nhớ lưu lại.”

“Tuân lệnh, boss!” Tô Lạc đáp.

Vừa cúp máy, Tô Lạc nhìn thấy Tiểu Tần đang ôm một tập tài liệu, cô liền chạy tới đỡ hộ đồng nghiệp.

Tiểu Tần đưa cho cô. “Đám người này chẳng có lương tâm gì cả, quà lưu niệm lấy hết, quyển ảnh tuyên truyền vứt bừa bãi. Có bỏ đi thì cũng nên chờ khi nào ra về hẵng bỏ chứ, chẳng nể mặt chúng ta gì cả!”

“Họ vứt lại cũng tốt, lần sau có thể dùng tiếp, chúng ta đỡ phải chi tiền đi in.” Tô Lạc an ủi chị.

“Cũng phải, cô đem lên xe trước đi.”

Tô Lạc vừa ôm tập tài liệu đi về phía ô tô, chuông điện thoại lại reo vang. Đoán là Dương Nhuệ, cô rảo bước, đặt tài liệu lên xe rồi vội vàng rút máy.

Nhìn thấy dãy số xa lạ trên màn hình, cô hơi thất vọng. “A lô!”

“Là tôi.”

“Ai đấy ạ?”

“Vừa rồi bảo cô lưu số điện thoại của tôi, xem ra cô vẫn chưa lưu.” Lại là Tiêu Kiến Thành.

“Đúng là tôi chưa lưu.” Người đàn ông này quá vô vị, Tô Lạc mất hết kiên nhẫn nên trả lời qua loa.

“Tại sao cô không lưu?” Tiêu Kiến Thành hỏi.

“Tôi chẳng có hứng thú với anh.” Cô thẳng thắn nói.

Nghe câu này, người ở đầu dây bên kia im lặng một lúc rồi cúp điện thoại.

Sau khi giành được thắng lợi nho nhỏ, Tô Lạc đắc ý mỉm cười.

 

Ngày hôm sau được nghỉ, Tô Lạc muốn ở nhà ngủ nướng nhưng mới sáng sớm đã bị tiếng ồn ào đánh thức. Mẹ cô bán đồ ăn sáng ở trước cửa nhà, có lúc bị nhân viên quản lý trật tự đô thị xua đuổi, hoặc thỉnh thoảng có khách kiếm cớ gây sự.

Tô Lạc vội xuống giường, thay quần áo lao ra ngoài. Mẹ cô đang cầm cái muôi, đứng trước nồi nước phở, hung dữ chặn đường một người. “Ông đừng đến đây gây phiền phức! Ở đây không có ai hoan nghênh ông.”

“Tôi đến tìm con gái, sao lại gọi là phiền phức?” Người đó là bố đẻ của Tô Lạc.

“Ai là con gái ông? Chỗ này chẳng có người nào là con gái ông cả.”

“Tôi tìm Tiểu Lạc.”

“Ông tìm nó làm gì? Thua sạch rồi nên tìm nó xin tiền chứ gì? Nó còn chẳng thể nuôi sống bản thân, lấy đâu ra tiền cho ông?”

“Tôi bị ốm, cần tiền chữa bệnh.”

“Ông thì có bệnh chó gì! Mấy ngày trước, tôi còn thấy ông khiêu vũ với mấy bà già ở bờ sông, nhảy rất hăng say cơ mà?”

“Mấy hôm nay đầu tôi đau như búa bổ…”

Bố Tô Lạc mặt nhăn mày nhó, bộ dạng rất đáng thương. Năm xưa, ông vừa làm trong cơ quan nhà nước vừa tranh thủ làm ăn thêm ở bên ngoài nên cũng kiếm được ít tiền, nhưng sau lại bồ bịch, ly hôn với vợ, bỏ hai chị em Tô Lạc cho mẹ cô. Đáng tiếc, sau đó việc làm ăn thất bại, nhân tình bỏ ông mà đi. Bây giờ, ông chỉ sống dựa vào đồng lương hưu ít ỏi, thuê một căn hộ đơn giản, thỉnh thoảng quay về xin tiền Tô Lạc. Thấy bố đáng thương, Tô Lạc cũng hay cho ông tiền tiêu vặt, trong khi mẹ và em trai cô cực lực phản đối.

Bà Nhạc cầm cái muôi chỉ vào mặt chồng cũ, mắng nhiếc: “Tô Kiến Quốc, ông cút đi cho tôi. Tôi còn phải bán hàng, ông đừng ở đây cản trở, cẩn thận kẻo tôi gọi Tô Kiệt về đấy.”

Khách ở bên cạnh vẫn ngồi ăn như không có chuyện gì xảy ra. Đều là hàng xóm láng giềng, mọi người thường gặp cảnh này nên đã quen từ lâu, cũng chẳng một ai lên tiếng khuyên nhủ.

Thấy tình thế bất lợi, ông Tô đành lẩm bẩm một câu rồi quay người bỏ đi. Bà Nhạc tiếp tục bán hàng.

Tô Lạc đứng ở cửa một lúc rồi lại về giường nằm.

Không biết bao lâu sau, Tô Kiệt lao vào nhà. Bây giờ là tháng Tư nhưng cậu chỉ mặc độc chiếc áo ba lỗ, để lộ hình xăm hoành tráng trên cánh tay.

“Ông già đó lại đến đây phải không?” Tô Kiệt hùng hổ hỏi chị gái.

“Ừ.”

“Đến làm gì?”

“Xin tiền chữa bệnh.”

“Bị ốm hả? Ông ta chết quách đi cho xong.”

“Được rồi, Tiểu Kiệt, em đừng nói như vậy!” Tô Lạc vùi đầu vào gối.

“Sao em không thể nói? Cuộc đời này, ông ta đã sống quá đủ, có thể xuống gặp Diêm Vương được rồi. Em nói cho chị biết, ông ta đừng để em bắt gặp, bằng không, ông ta không muốn chết cũng phải chết.” Ánh mắt Tô Kiệt vụt một tia sáng, đó là tia thù hận sâu sắc.

Lúc bố mẹ ly hôn, Tô Lạc đã sáu tuổi nên ít nhiều cũng có tình cảm với bố. Tô Kiệt mới hai tuổi, trong quá trình trưởng thành của cậu, ký ức về người bố toàn đến từ những lời nguyền rủa và oán trách của mẹ, do đó, cậu rất căm hận bố. Đây cũng là cách tốt nhất để cậu thể hiện tình yêu với mẹ.

Đúng lúc này bà Nhạc đi vào, lập tức tiếp lời con trai: “Lần sau ông ta còn đến đây, mẹ sẽ gọi điện cho mày ngay. Đúng là đồ vô liêm sỉ, còn dám đến xin tiền. Ông ta không nghĩ đến năm xưa, ba mẹ con ta không có tiền cũng chẳng có cái ăn, suýt nữa thì chết đói. Tiểu Lạc, cô không được cho ông ta tiền, dù chỉ một xu, cô nghe rõ chưa, nghe rõ chưa?”

“Con rõ rồi ạ.” Tô Lạc đáp khẽ.

[1] Trạm thu phát gốc (hay còn gọi là trạm gốc): là một phần của mạng thông tin di động GSM, chịu trách nhiệm truyền và giao tiếp giữa điện thoại di động và hệ thống chuyển mạch. Trạm gốc thực hiện việc truyền các kênh thoại đã mã hoá, cấp phát các kênh sóng cho máy điện thoại di động, quản lý chất lượng truyền và nhận thông qua giao tiếp bằng sóng cao tần và thực hiện nhiều việc khác liên quan tới mạng truyền dẫn bằng sóng radio.