Tịch mịch 3.2

Lão thái thái cầm lấy, ước lượng trong tay, cười nói: “Đây là thứ đồ gì, nặng quá!”

Hắn trả lời: “Đây là súng của phương Tây, hôm nay so tài bắn tên trong hoa viên, Hoàng thượng vui vẻ liền thưởng cho con cái này.”

Tứ thái thái cười, nói: “Lúc con còn chưa ra khỏi cổng cung thì đã nghe nói rồi. Nghe nói hôm nay Đông Lang đoạt được giải cao nhất, một mũi tên trúng hai đích làm mấy vị bối tử, bối lặc và các thị vệ đều buồn bã vì đấu không lại, Hoàng thượng rất vui.”

Lão thái thái cũng cười, gật đầu, nói: “Đi gặp mẫu thân con đi, nói cho người vui.”

Dung Nhược liền đáp một tiếng “vâng” rồi đứng dậy, đi ra nhà phía sau gặp Nạp Lan phu nhân.

Nạp Lan phu nhân nghe hắn kể chuyện, quả nhiên cũng vui mừng, nói: “Phụ thân con suốt ngày huyên thuyên, ông ấy cũng chỉ tiếc là rèn sắt không thành thép mà thôi. Thật ra Hoàng thượng luôn đối với con rất tốt, con đừng phụ lòng thánh thượng.”

Dung Nhược đáp “vâng”, dường như Nạp Lan phu nhân nhớ ra một chuyện, bà nói: “Bà mối cầm thiệp tuổi đến, lát nữa con cũng xem qua một chút đi. Vợ con đã mất gần hai năm, việc này cũng nên nghĩ đến rồi.” Thấy hắn cúi đầu không nói, bà liền nói tiếp: “Mẫu thân biết trong lòng con vẫn rất đau khổ, nhưng con cũng đã tận tâm với nghĩa phu thê rồi.”

Dung Nhược trả lời: “Việc này xin mẫu thân quyết định là được.”

Một lúc lâu sau Nạp Lan phu nhân mới nói: “Vợ kế tuy không thể so với vợ cả nhưng cũng là việc trọng đại cả đời, trong lòng con có ý gì thì đừng ngại nói ra.”

Hắn đáp: “Mẫu thân nói như vậy khiến con chẳng biết giấu mặt vào đâu. Lễ phép của người Hán là “lệnh của phụ mẫu, lời của bà mối”, người Mãn chúng ta cưới hỏi qua mai mối cũng phải theo ý của phụ mẫu mới đúng phép tắc.”

“Con đã nói như vậy, mẫu thân sẽ đi bẩm Lão thái thái, rồi lại cùng phụ thân con bàn bạc vậy.” Nạp Lan phu nhân gật đầu.

Theo thường lệ, Dung Nhược cùng mẫu thân hầu hạ Lão thái thái ăn cơm xong lại đi thỉnh an phụ thân Minh Châu rồi mới về phòng mình. A hoàn cầm đèn đi phía trước, hắn đi một đường quanh co qua đình qua viện, bất giác đi đến trước cổng vòm. Xa xa trông thấy trên cành cây thấp thoáng ở góc hành lang, dưới ánh sáng mờ mờ của ánh trăng, tựa như có một bông hoa trắng muốt, hắn không khỏi kinh ngạc mà dừng bước, buột miệng hỏi: “Hoa lê nở rồi sao?”

A hoàn đáp: “Đại gia nói đùa rồi, tiết trời này đến ngọc lan còn chưa nở, huống hồ là hoa lê.”

Dung Nhược im lặng, một lúc lâu lại nhấc bước chân đi về hướng hành lang kia. A hoàn vội vàng đi theo. Đêm đen như mực, vầng sáng vàng ấm áp từ chiếc đèn lồng chiếu xuống nền gạch xanh. Từng viên gạch to ba thước vuông vắn, ghép lại không kẽ hở, bóng loáng như gương. Mỗi viên gạch, mỗi chiếc cột, mỗi cây, mỗi hoa đều có bóng dáng tà áo xưa của nàng lướt qua. Gió đêm lạnh thấu xương, thổi vào cánh cửa sổ khiến nó khẽ lay động.

Hắn ngẩng lên, chỉ thấy những ngôi sao lung linh trên trời đêm đen mịt mờ. Phía đông một ngôi, phía tây thì có cả một chùm sao giống như ông trời tiện tay vẩy ra một nắm đinh bạc. Duỗi tay miết lên cột trụ sơn màu đỏ thắm của hành lang, nhớ tới năm đó cùng nàng chơi đố từ. Trong lúc chưa kịp nghĩ ra từ thì nàng chỉ xoa xoa lên cột trụ đến thất thần, hoặc nhìn cây chuối, hoặc vuốt hoa lê. Chỉ trong chốc lát nàng sẽ xoay người lại, cười khẽ lộ lúm đồng tiền, phảng phất sự vui sướng.

Hắn không khỏi thầm ngâm nga trong lòng: “Gió đã vi vu, mưa cũng vi vu, nhìn đèn cháy hết lại một đêm.” Lúc này trời trong sao sáng, trong lòng lại có một trận gió mưa lạnh lẽo, hết thảy nỗi niềm ưu sầu không thể nói ra. “Tỉnh cũng chán chường, say cũng chán chường, trong mộng cũng chưa từng tới Tạ Kiều[1]”…

Lâm Lang ngẩng mặt nhìn một góc tường trên nền trời đen tím biếc. Nhìn lên bức tường đỏ tứ hợp, như một cái giếng thật sâu, mà nàng đang đứng ở dưới đáy. Nàng chỉ đứng lặng im, cứ như sẽ mãi mãi chẳng còn được nhìn thấy bầu trời nữa. Gió đêm mang theo hơi lạnh mùa xuân, thổi lên mặt cũng chẳng có cảm giác. Từ sau khi xa cách, đến trong mơ nàng cũng chưa từng thấy hắn… Trong mơ cũng chưa từng tới Tạ Kiều…

Họa Châu đi ra, thấy nàng liền kêu “ai ôi” một tiếng. “Muội không muốn sống nữa sao, thời tiết thế này lại đứng ở nơi đầu gió hứng gió?”

Lúc này Lâm Lang mới cảm thấy trước ngực lạnh buốt, tay chân lạnh cóng từ lâu, nàng chỉ đáp: “Muội thấy trên trời đầy sao sáng nên đứng lại ngắm.”

Họa Châu nói: “Sao thì có gì đẹp mà ngắm? Đứng đây thêm lúc nữa xem người muội có đông lại hay không?”

Lâm Lang cũng cảm thấy mình đang đông lại rồi, liền theo Họa Châu đi về phòng, ngồi trước chậu than giữ ấm một lúc mới thấy ấm dần lên. Họa Châu đã đi ngủ trước, lâu nay nàng ấy vẫn vô ưu vô lo, không lâu sau Lâm Lang liền nghe thấy tiếng thở đều đều của nàng, chắc là đã ngủ say rồi. Than củi trong chậu đang cháy, từng ngọn lửa hồng dần biến thành tro tàn. Dầu trong đèn cũng không còn nhiều, ánh sáng leo lét, yếu ớt. Lâm Lang gỡ cây trâm trên tóc xuống, gạt bấc đèn, nghe gió thổi lạnh căm ngoài cửa sổ, ngày càng mạnh. Nàng ngủ không sâu, giữa lúc nửa mơ nửa tỉnh, tiếng gió như ở ngay bên tai, khiến nàng thổn thức cả đêm.

 

 

[1] Tạ Kiều ám chỉ nơi có người mình yêu thương. Trích Thái Tang Tử của Nạp Lan Tính Đức.

 

Chân Hoàn 3.2

Tôi nhấp một ngụm trà, lòng phiền não. Trong đầu bất giác hiện rõ cảnh nửa tháng trước ngày vào cung tuyển tú, hắn đến bắt mạch bình an cho tôi. Trong cung có quy định rõ ràng, ngự y khi chưa được lệnh vua thì không được bắt mạch chẩn bệnh cho người không thuộc hoàng tộc, nhưng vì hắn qua lại nhà tôi cũng đã lâu nên lúc rảnh rỗi vẫn thường ghé qua chơi, thăm bệnh cho cả nhà. Hôm đó, hắn ngồi trong sảnh nhỏ nơi hiên tôi ở, bắt mạch xong, hắn trầm tư hồi lâu rồi đột nhiên nói: “Hoàn muội, nếu ta đến xin hỏi cưới, muội có đồng ý lấy ta không?”

Lúc ấy tôi sững người, ngượng đến chín mặt, nghiêm giọng nói: “Coi như Chân Hoàn tôi chưa nghe thấy Ôn đại nhân nói gì!”

Hắn vừa xấu hổ vừa hoảng hốt, luôn miệng xin lỗi: “Là ta không tốt, xúc phạm đến Hoàn muội, xin muội đừng giận! Thực Sơ chỉ hy vọng muội không phải vào cung ứng tuyển mà thôi!”

Tôi cố nén giận, gọi Phân Nhi: “Ta mệt rồi, tiễn khách!”, rồi nửa đuổi nửa mời hắn ra ngoài.

Trước khi rời đi, hắn chăm chăm nhìn tôi, thành khẩn van vỉ: “Thực Sơ không dám bảo đảm điều gì nhưng dư sức cam đoan suốt đời suốt kiếp sẽ đối xử với Hoàn muội thật tốt, mong muội suy nghĩ kĩ, nếu đồng ý thì cứ nhờ Hành huynh chuyển lời, ta lập tức sẽ tới cầu hôn.”

Tôi quay đi, chăm chăm nhìn vào tấm bình phong bằng gỗ mun chạm, lặng yên không đáp.

Tôi chẳng thèm để ý đến chuyện này, cũng không kể gì với cha mẹ và đại ca.

Ôn Thực Sơ quả thực không phải là mẫu người mà lòng tôi hướng tới. Tôi không thể chỉ vì không muốn tham gia tuyển tú mà tùy tiện thành thân với người khác. Nếu cuộc đời chỉ có hai lựa chọn: hoặc là vào cung hoặc là thành thân với Ôn Thực Sơ thì tôi tình nguyện vào cung. Ít nhất không phải suốt ngày đối mặt với người đàn ông như Ôn Thực Sơ, tuy quen biết từ nhỏ nhưng chẳng có chút tình cảm nam nữ nào, rồi phải ở chung với hắn đến lúc đầu bạc răng long, trở thành cặp vợ chồng không yêu thương cũng không ghét bỏ nhau, sống cuộc sống tầm thường, chán nản. Dù thế nào đi nữa, tôi không thể sống một cuộc đời giản đơn, dễ đoán như thế được, ít ra khi vào cung sẽ được thấy một phương trời khác.

Lòng tôi rối tựa tơ vò, không đi ngủ theo lời khuyên của Hoàn Bích mà khoác tấm áo choàng tơ tằm, một mình thong thả đi dạo ngoài hành lang.

Ở cuối hành lang quanh co là Xuân Cập hiên, nơi Lăng Dung ở tạm, tôi nghĩ ngày mai vào cung rồi, chắc hẳn nàng ta rất muốn tâm sự riêng với dì Tiêu, bèn không đi sang chỗ nàng ta nữa mà xoay người đi ra vườn. Đột nhiên tôi cảm thấy vô cùng lưu luyến Chân phủ, nơi mình từng sống suốt mười lăm năm ròng, từng nhành cây, ngọn cỏ đều gợi lại những kỷ niệm xưa, khiến tôi không khỏi tức cảnh sinh tình.

Lững thững đi dạo hết một vòng thì trời đã về khuya, sợ Phương Nhược cô cô và đám a hoàn, người hầu sốt ruột, tôi bèn rảo bước quay về. Đi qua Hư Lãng trai, nơi đại ca tôi ở, là đến Khoái Tuyết hiên rồi. Đang đi, tôi chợt nghe thấy có tiếng loạt soạt ở cửa ngách của Hư Lãng trai, một bóng người nhỏ nhắn, yểu điệu đang đứng đó. Tôi cứ ngỡ đó là a hoàn hầu hạ ca ca, đang định cất tiếng vặn hỏi thì ngỡ ngàng nhận ra, người đó chẳng phải là Lăng Dung sao?

Tôi vội giấu mình sau một gốc cây ngô đồng, chỉ thấy Lăng Dung đang ngẩn ngơ nhìn về phía bóng lưng cao to của ca ca tôi hằn lên song cửa phòng ngủ ở Hư Lãng trai. Ánh trăng dịu dàng như nước lách qua kẽ lá ngô đồng, tựa như những đường thêu chìm rải rác trên người nàng ta, khiến nàng ta càng có vẻ yếu ớt, mảnh mai, bộ dạng ẩn nhẫn, đau lòng. Vạt áo nàng ta bị gió đêm thổi tung nhưng dường như nàng ta không hề cảm thấy lạnh. Giờ đã vào giữa tháng Chín, mấy gốc ngô đồng trồng trước Hư Lãng trai đã bắt đầu rụng lá. Đêm khuya thanh vắng, giữa tiếng lá vàng rơi xào xạc, tôi mơ hồ nghe thấy tiếng nức nở, cố kìm nén của Lăng Dung, nhất thời cảm thấy buồn man mác. Dù tình cảm của Lăng Dung đối với ca ca tôi sâu đậm nhường nào thì chỉ e rằng đời này kiếp này đã định sẵn họ có duyên nhưng không có phận. Gió đêm quấn quanh người, chẳng hiểu sao tôi lại sực nhớ đến câu nói của Ôn Thực Sơ: “Vào cửa vương hầu sâu tựa biển, từ đó chàng Tiêu thành khách qua đường.” Với Lăng Dung, câu thơ này quả thực rất phù hợp.

Không biết đã ngẩn người, ngưỡng vọng bao lâu, cuối cùng, Lăng Dung cũng lặng lẽ rời đi.

Tôi ngước mắt nhìn ánh đèn trong phòng ca ca, trong lòng thầm kinh hãi, trước giờ tôi vẫn luôn tự phụ cho rằng mình thông minh hơn người, thế mà không phát hiện ra chỉ trong mười mấy ngày ngắn ngủi, Lăng Dung đã thầm sinh lòng ái mộ ca ca. Mối tình này không phải là thoáng qua mà đã thâm sâu đến mức đêm trước ngày tiến cung, nàng ta còn nhìn theo bóng ca ca mà rơi lệ. Không biết vì Lăng Dung hổ thẹn mà che giấu, hay do mấy ngày nay, tâm tình tôi không được thoải mái nên chẳng để ý nhiều đến những chuyện khác, nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng đã quá sơ ý. Nếu lỡ ca ca và Lăng Dung quả thực xảy ra chuyện gì thì không những hại hai người họ mà còn đem tai họa lớn đến cho hai nhà An – Chân.

Tôi không khỏi sinh lòng lo lắng nhưng nghĩ kĩ lại, theo như tình hình tối hôm nay, chắc hẳn ca ca vẫn chưa biết gì về tình cảm mà Lăng Dung dành cho mình, đa phần là Lăng Dung đơn phương tình nguyện mà thôi. Nhưng tôi vẫn nên chọn thời điểm thích hợp, nhắc nhở Lăng Dung một phen, nàng ta trúng tuyển vào cung là chuyện chẳng dễ dàng gì, không nên vì việc này mà làm ảnh hưởng đến tiền đồ về sau.

Tôi quay về phòng, đêm yên bình trôi qua. Giấc ngủ của tôi vốn đã hay chập chờn, nay thêm bao tâm sự nặng nề khiến tôi càng khó ngủ. Trằn trọc hồi lâu, trời đã sáng tỏ.

Đêm cuối cùng tôi ở nhà mẹ đẻ đã trôi qua như vậy!

Ngày Mười lăm tháng Chín, trong cung cử một đoàn người đông đảo gồm chấp lễ đại thần, nội giám cung nữ, nối đuôi nhau cầm nghi trượng đến đón tôi và Lăng Dung vào cung. Tuy chỉ là cung tần tiến cung nhưng nghi thức cũng hết sức phô trương, huống hồ hai vị tiểu chủ cùng ở một nhà, quan dân xung quanh đó đều xúm lại, xem cảnh náo nhiệt.

Tôi ngậm ngùi từ biệt cha mẹ, huynh muội, lên kiệu vào cung. Lúc ngồi trong kiệu, bên tai là tiếng pháo đì đùng, kèn trống rền vang nhưng tôi vẫn loáng thoáng nghe thấy tiếng nức nở, nghẹn ngào của mẹ và hai tiểu muội.

Lưu Chu và Hoán Bích theo tôi vào cung, chúng là a hoàn hầu hạ bên tôi từ nhỏ. Lưu Chu nhanh nhạy, quyết đoán, có tài ứng biến, Hoán Bích tinh tế, tỉ mỉ, lại dịu dàng, biết cách chăm sóc người khác. Chúng đều là những phụ tá đắc lực của tôi, những ngày sống trong cung sau này thực sự không thể thiếu sự giúp đỡ chu toàn của chúng. Trong cuộc tranh đấu sinh tồn nơi cung cấm, nếu người hầu bên cạnh không thể tin tưởng được thì chẳng khác nào đứng bên bờ vực thẳm, bất cứ lúc nào cũng phải đối diện với nguy cơ trượt ngã mà tan xương nát thịt.

Giờ lành đã tới, dưới sự hướng dẫn của chấp lễ đại thần, tôi vịn tay cung nữ bước xuống kiệu. Kiệu dừng bên ngoài cửa Trinh Thuận, vì chỉ là phi tần nhỏ bé, không phải chính cung Hoàng hậu nên chỉ có thể vào cung bằng cửa ngách.

Vừa xuống kiệu đã thấy My Trang và Lăng Dung đứng đó, lòng tôi vốn bồn chồn, bất an giờ bỗng cảm thấy yên ổn trở lại. Theo đúng lễ nghi thì không thể mở miệng nói chuyện, chúng tôi chỉ có thể nhìn nhau, mỉm cười thay cho lời chào hỏi.

Ngày hôm đó, tiết trời thật đẹp, khác hẳn hôm tuyển tú, bầu trời sâu thẳm, xanh biếc như ngọc, không hề có một gợn mây. Ánh mặt trời sớm mai tỏa hơi ấm áp, lấp lánh rực rỡ hệt như ánh vàng ròng.

Đứng ngoài cửa Trinh Thuận nhìn thẳng vào hậu cung trong Tử Áo thành, đâu đâu cũng là mái ngói cong vút, ngói lưu ly hai màu vàng kim và xanh nhạt chói lọi dưới ánh mặt trời, trong veo tựa sóng nước khiến người nhìn chói mắt, toát lên một khí thế tráng lệ, hào nhoáng, cát tường của thời thịnh thế.

Tôi tự nhủ đây chính là nơi từ nay về sau mình sẽ sống rồi bất giác ngẩng đầu nhìn bầu trời cao thăm thẳm, một bầy nhạn ríu rít bay về hướng nam, xé rách bầu trời yên bình, xanh ngắt.

Bên ngoài cửa Trinh Thuận, nội thị mặc áo đỏ sậm đứng chờ sẵn từ lâu, dưới sự bảo vệ của Loan Nghi vệ và Vũ Lâm thị vệ, họ dẫn tôi và mấy tiểu chủ còn lại đi về phía cung thất riêng của mình. Bước qua cửa Trinh Thuận, băng qua đường lớn, theo đường hẻm vòng qua phía tây, hai bên là bờ tường cung điện sơn đỏ, cao ngất tựa một con rồng đỏ cực lớn, quanh co, không sao nhìn thấy tận cùng. Bên trong là vô số đền đài cung điện, trải dài không dứt. Đi được một lúc, bằng thời gian cạn một chung trà, chúng tôi dừng lại trước một cung điện. Trên tấm biển treo cao là ba chữ lớn bằng vàng ròng: Đường Lê cung.

Hồ đồ 5.1

Lần phát bệnh này của anh cô kéo dài hơn những lần trước. Chứng kiến cảnh anh trai đau đớn như vậy, Trình Đoan Ngọ vô cùng lo lắng. Cầm khăn lau mồ hôi ở lưng và ngực cho anh, mong anh sẽ bớt đau mà nước mắt cô đầm đìa.

Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua, anh trai cô mệt quá mà rơi vào hôn mê. Trình Đoan Ngọ xoa dầu gió dưới mũi cho anh rồi đỡ anh nằm xuống giường nghỉ ngơi. Sau khi làm xong mọi việc, cô cũng cảm thấy người mệt lử, bèn ngồi xuống ghế. Không có Đông Thiên, căn phòng bỗng trở nên yên tĩnh đến dị thường. Cô thấy xót xa.

Cho dù cả thế giới này khinh thường cô cũng chẳng sao, cho dù sau này Đông Thiên có hận cô đi nữa thì cũng chẳng vấn đề gì. Cô chỉ cần Đông Thiên được lớn lên trong điều kiện tốt nhất. Còn cô, cô hoàn toàn không dám chắc mình có khả năng nuôi dưỡng Đông Thiên đến lúc lớn hay không.

Bảy năm trước, Trình Đoan Ngọ đâu phải lo lắng hay suy nghĩ về chuyện tiền nong như thế này chứ?

Từ nhỏ đến lớn, cô sống trong sự che chở, yêu thương của hàng tá đàn ông, được mọi người cưng chiều, quý mến, chẳng bao giờ biết đến từ “vất vả”. Đến lúc đi học, tất cả bạn bè trong trường đều không dám đắc tội với cô, thậm chí những cậu bé bướng bỉnh, nghịch ngợm cũng phải cúi đầu trước cô. Chính điều ấy đã tạo nên tính cách ương ngạnh, cao ngạo và tác oai tác quái của cô. Cô chưa bao giờ làm hại ai nhưng cũng không để yên cho những kẻ có ý định dò xét mình. Có những lúc cô tranh cãi vài câu với ai đó, chỉ vài tiếng sau là người đó gặp tai ương. Mới đầu cô cũng hạn chế những hành vi ấy, nhưng sau đó cô chẳng quan tâm nữa.

Có lẽ vì thế mà Lục Ứng Khâm mới ghét cô như vậy?

Kiểu người mà Lục Ứng Khâm thích phải giống như Du Giai Giai, một cô gái vừa yếu đuối vừa vô tư, đáng yêu. Trình Đoan Ngọ cũng biết như vậy, nhưng cô vẫn muốn kéo anh ta về với mình. Giờ nghĩ lại, cô bỗng nhận ra hồi đó chưa lần nào cô hỏi Lục Ứng Khâm có muốn ở bên cô không. Cô đã quen với việc, nếu cô đã thích cái gì thì cái đó nhất định phải là của cô.

Trước kia, Trình Đoan Ngọ không biết rằng Lục Ứng Khâm lại căm ghét mình đến như vậy, đến mức anh ta hủy hoại tất cả những gì thuộc về cô rồi cuối cùng tàn nhẫn đẩy cô xuống một vực sâu xa lạ, không thể nào ngoi lên được nữa…

Lần đầu gặp Lục Ứng Khâm là khi cô mười sáu tuổi. Có lẽ thực sự là số mệnh, dường như anh ta được định trước là phải gặp cô, không sớm cũng chẳng muộn, vừa vặn đúng thời khắc đó xuất hiện trong cuộc đời cô, khiến cô vui vẻ đến mê muội. Từ đó trở đi, cô không thể cưỡng lại bản thân mình được nữa.

Lúc ấy, Lục Ứng Khâm không biết Trình Đoan Ngọ là một viên ngọc quý trên tay của Trình Thiên Đạt. Bốn năm học đại học, Lục Ứng Khâm đều ở trong ký túc xá của trường. Sau khi học xong, bị thuộc hạ của Trình Thiên Đạt lôi đến Quảng Đông mưu sinh cho nên chưa một lần trở về đây. Tròn sáu năm, lần đầu tiên anh ta trở về thì gặp Trình Đoan Ngọ ở nhà Du Đông.

Lúc đó, Trình Đoan Ngọ đang ngồi chơi cùng một cậu bé chừng bốn, năm tuổi. Thằng bé đó hình như là con trai của một tên xã hội đen, trên tay cầm khẩu súng lục chưa lắp đạn rồi túm lấy áo Trình Đoan Ngọ, hỏi nọ hỏi kia.

Một đứa trẻ còn non nớt, một cô gái cũng không hiểu biết nhiều, một lớn, một nhỏ chụm đầu lại, nghịch khẩu súng chết người kia. Trình Đoan Ngọ giải thích cấu tạo của khẩu súng cho thằng bé luyên thuyên và sai bét. Lục Ứng Khâm nhìn thấy cảnh tượng đó mà không nhịn được cười. Người vốn nghiên cứu rất sâu về các loại máy móc và rất chuyên nghiệp như anh ta chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà liền bước đến, cầm lấy khẩu súng.

“Đây là một khẩu súng lục, tên tiếng Anh là Revolver.” Anh ta lắp ráp khẩu súng một cách thuần thục. Vì trong súng không có đạn nên anh ta kéo cò súng làm như đang bắn, tiếng “tạch… tạch” vang lên khiến Trình Đoan Ngọ cứ dán mắt vào anh ta.

Anh ta giống như một thầy giáo kiên nhẫn, nhiệt tình giải thích: “Khẩu súng lục này có sáu lỗ đạn, dành cho người thuận tay phải nên nó sẽ chuyển động theo hướng trái, vì vậy người Trung Quốc thường gọi là súng lục ổ quay trái. Đặc điểm lớn nhất của súng lục là không cần phải kéo búa gõ, chỉ cần kéo cò là bắn được.”

“…”

Có lẽ là do từ nhỏ Trình Đoan Ngọ đã có tâm lý phản nghịch. Cô muốn học đủ thứ từ cha cô, Trình Thiên Đạt. Cô luôn cho rằng con gái không nên kém cỏi quá so với con trai. Trình Thiên Đạt hay thuộc hạ của ông đều nâng niu cô như một báu vật, mỗi lần cô động vào vũ khí là họ lại vội vã, hốt hoảng giật lại.

Còn người đàn ông này, đứng trước một cậu bé còn non nớt và một cô gái trẻ tuổi lại giảng giải rất nhiệt tình, ánh mắt không có biểu hiện gì khác.

Trình Đoan Ngọ luôn cho rằng nam nữ phải được đối xử bình đẳng, và đây là lần đầu tiên trong đời cô gặp một người đối xử bình đẳng với cô như vậy. Kể từ đó, cô lén lút theo dõi Lục Ứng Khâm, giống như một kẻ sưu tầm biến thái, cô si mê từng động tác, từng biểu hiện của anh ta.

Lục Ứng Khâm hơn cô sáu tuổi, bằng tuổi Du Đông nhưng chưa bao giờ cô gọi Lục Ứng Khâm là “anh”. Từ bé cô đã mất mẹ nên không được hưởng sự dạy bảo dịu dàng của mẹ. Cô cũng không có những khái niệm rõ ràng về tình cảm. Lúc cô còn chưa biết phân biệt rõ ràng thế nào là tình yêu, thế nào là si tình thì đã mù quáng để cho Lục Ứng Khâm từ từ chiếm mọi thứ trong tầm mắt mình.

Lục Ứng Khâm là người đàn ông khôi ngô, tuấn tú nhất mà cô từng gặp. Mặc dù xuất thân nghèo khổ nhưng khí chất lạnh lùng, điềm tĩnh luôn khiến anh ta nổi bật giữa đám đông. Tuy tuổi còn trẻ nhưng anh ta rất cẩn thận và bạo dạn trong công việc, vì thế anh ta giúp Trình Thiên Đạt rất nhiều. So với những bậc đàn anh có tên tuổi trong giới, anh ta cũng chẳng kém cỏi chút nào.

Khi ấy, mọi suy nghĩ của Trình Đoan Ngọ đều ngây thơ như vậy. Một người đàn ông ưu tú như thế, nếu ở bên cạnh cô cả đời thì tốt biết mấy. Vì thế, trong ngày sinh nhật lần thứ mười bảy của cô, khi Trình Thiên Đạt đứng trước mặt rất nhiều anh em, hỏi cô con gái yêu quý của mình rằng: “Đoan Ngọ, hôm nay sinh nhật, con muốn quà gì nào, bố sẽ mua tặng con?”, lúc ấy, mặc dù có chút ngại ngùng, cô vẫn dũng cảm đưa tay ra, chỉ thẳng vào Lục Ứng Khâm, nói rất rõ ràng: “Bố, con muốn anh ấy.”

Khi ấy cô rất ngang ngạnh, đã muốn thứ gì là phải có bằng được. Vì lúc đó người luôn bên cạnh Lục Ứng Khâm là Du Giai Giai, cô bạn thanh mai trúc mã của anh ta, nếu bây giờ cô không hành động thì có lẽ sẽ không kịp nữa. Cô bất chấp tất cả để chia rẽ bọn họ, cuối cùng cũng đoạt được Lục Ứng Khâm như mong muốn.

Hồi đó, một cô gái mười bảy tuổi như cô đâu có biết rằng, chính hành vi nông nổi, bốc đồng đó của cô đã khiến Trình gia gặp đại họa…

 

Đã rất lâu rồi Lục Ứng Khâm không lái xe. Chiếc xe để lâu nên động cơ cứ kêu “ù… ù”. Anh ta cũng chẳng biết mình đang nghĩ gì mà một nửa đầu như tê dại.

Nhận thằng bé từ tay Trình Đoan Ngọ, Quan Nghĩa lập tức gọi điện cho anh ta: “Đại ca, thằng bé ở trong tay em rồi, em đưa nó về đó nhé?”

Lục Ứng Khâm nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “Đưa đến chỗ Giai Giai.” Nói rồi, anh ta vẫn cảm thấy không yên tâm, lại nói thêm: “Tiện thể tìm mấy người giúp việc rồi bảo Du Giai Giai lựa chọn.”

“Dạ!”