Đông cung 2.7

Giọng điệu khách sáo, xa cách của gã khiến tôi lấy làm khó chịu. Có lẽ vì gã từng cứu tôi hai lần nên thực lòng tôi thấy cảm kích.

Tôi và A Độ dẫn Bùi Chiếu đi băng qua một con ngõ nhỏ hẹp, sau mấy khúc ngoặt mới đến được quán rượu của Mễ La.

Thấy tôi đến, Mễ La niềm nở chạy ra đón tiếp, mắt cá chân đeo chuông vàng ngân nga theo mỗi bước đi, trâm cài chạm hoa tai leng keng đệm nhạc. Mễ La ôm tôi, cười nói:

– Tỷ phần đệ hai hũ rượu ngon rồi đấy!

Mễ La liếc mắt nhìn Bùi Chiếu đứng sau A Độ, người ngoài thoạt nhìn cặp mắt xanh biếc của Mễ La luôn có cảm giác ngần ngại, sợ hãi, thế mà Bùi Chiếu vẫn bình thản như không. Sau này tôi nghĩ, nhà họ Bùi cũng là thế gia vọng tộc ở Thượng Kinh, ắt gặp nhiều biết nhiều. Thượng Kinh vốn sầm uất, trên phố thiếu gì con gái người Hồ[1] bán rượu, Bùi Chiếu hẳn có thấy cũng không lấy làm lạ.

Quán rượu này không chỉ có rượu ngon mà món thịt bò cũng đậm đà, vừa miệng. Mễ La sai người thái một cân thịt bò cho chúng tôi nhắm rượu. Chúng tôi vừa vào, ngồi chưa ấm chỗ thì trời bất chợt đổ mưa.

Trời thu trút nước, dai dẳng, đập lên ngói trúc trên mái nhà. Bàn kế bên có vài vị khách là thương nhân Ba Tư, lúc bấy giờ lấy ra một ống sáo bằng sắt, tiếng sáo dìu dặt cất lên, bắt đầu một giai điệu kỳ lạ, hòa cùng tiếng nước vỡ òa trên mái hiên, tạo thành nhịp điệu da diết khó nói thành lời.

Mễ La nghe thấy tiếng sáo liền đặt phịch hũ rượu xuống, nhảy vọt lên bàn, nhón chân trần nhảy múa. Dáng tỷ mềm mại, khêu gợi, buông lơi như cơ thể không xương trong khúc nhạc, yêu kiều không sao tả xiết. Tiếng chuông vàng dưới mắt cá chân, trên cườm tay tựa cơn mưa rào, đắm chìm trong âm điệu của sáo, lại gợi hình ảnh về một con rắn vàng mải mê uốn lượn. Đám thương nhân Ba Tư vỗ tay tán thưởng, Mễ La sẽ sàng trườn xuống bên bàn, bắt đầu những điệu quay tròn đu đưa, vây lấy ba người chúng tôi.

Xa Tây Lương bấy lâu, lúc này tôi mới được cười thoải mái. Động tác của Mễ La uyển chuyển, nhịp nhàng tựa dải lụa đang quấn quýt lấy thân tôi, rồi lại tung tăng, dập dờn vờn quanh như cánh bướm. Tôi bắt chước tỷ ấy, tay cũng hòa với nhạc đệm múa máy kiểu này kiểu nọ, ngặt nỗi cơ thể không dẻo dai bằng tỷ ấy. Mễ La xoay vài vòng, A Độ lấy trong áo ra một cây kèn tất lật[2] đưa cho tôi, tôi mừng quýnh, cũng làm vài điệu góp vui.

Lái buôn người Ba Tư thấy tôi thổi kèn liền vỗ tay bắt nhịp. Thổi được một bài, thịt bò trên đĩa dậy mùi thơm phức, tôi liền dúi chiếc kèn vào tay Bùi Chiếu:

– Ngươi thổi đi! Thổi đi!

Thế rồi tôi cầm đũa, mau chóng ngốn đồ ăn.

Chẳng ngờ Bùi Chiếu không những biết thổi kèn mà còn thổi rất hay. Tiếng kèn vốn dìu dặt mà có vẻ đau thương, tiếng sáo kia lại lanh lảnh, mãnh liệt, hai loại nhạc khí hòa quyện rất nhịp nhàng. Mở đầu, tiếng kèn của Bùi Chiếu họa theo tiếng sáo, về sau, tiếng sáo của thương nhân người Ba Tư dần hòa quyện với tiếng kèn. Giai điệu du dương chuyển sang sục sôi, hùng dũng, như thể mây mù đặc quánh trên đại mạc bao la của Ngọc Môn Quan[3], xa xăm có tiếng lục lạc, một đoàn lạc đà xuất hiện trên cồn cát. Tiếng lục lạc đong đưa càng lúc càng gần, gần kề đến mãnh liệt, thế rồi cửa ải hiểm yếu đột nhiên rộng mở, thiên binh vạn mã phất cờ dàn trận, tiếng gào thét, tiếng vó ngựa, khiên giáp va chạm bật thành tiếng, tiếng gió, tiếng thở ra, hít vào… Vô số âm thanh hòa thành chương nhạc ngùn ngụt đất trời, cuồn cuộn kéo đến. Mễ La múa mỗi lúc một nhanh, rong đuổi theo nhịp điệu mỗi lúc một tăng, lượn vòng tựa một cánh thiêu thân lấp lánh ánh vàng, điệu múa xoay tròn của tỷ ấy khiến tôi xây xẩm.

Âm điệu mỗi lúc một thê lương, gợi nhớ cánh diều hâu chao lượn trên tầng không trông xuống thiên binh vạn mã dưới sa mạc, nó càng bay càng cao, bay cao mãi, gió rít gào thốc dậy bụi mù… Bao giờ tôi kễnh bụng vì no, chắc con diều hâu ấy đã bay vút lên đỉnh núi tuyết cao tít rồi cũng nên, tuyết liên[4] trên đỉnh núi bung nở, diều hâu sải cánh vút qua. Có chiếc lông vũ bứt khỏi thân chim, phiêu bồng theo gió, gió đặt chiếc lông chim nằm kề bên bông tuyết liên. Nhánh lông vũ đáp xuống tuyết, bị gió vùi trong tuyết. Cánh tuyết liên mơn mởn khẽ rung rinh. Gió bụi vạn dặm như lắng mình tĩnh lặng nơi đỉnh núi…

Tiếng sáo, tiếng kèn bỗng im bặt, trong quán trầm lắng đến nỗi tiếng giọt ranh ngoài hiên vọng vào nghe rõ mồn một. Mễ La nằm mọp trên bàn thở dốc, đôi mắt xanh biếc như chực tuôn trào dòng nước, tỷ ấy bảo:

– Ta không thể tiếp tục được nữa!

Đám thương nhân Ba Tư cười ồ, có người rót chén rượu, đưa cho Mễ La. Lồng ngực vẫn phập phồng, Mễ La uống một hơi cạn chén rượu, đoạn quay sang, cười tươi với Bùi Chiếu:

– Huynh thổi kèn rất hay!

Bùi Chiếu không đáp lời, chậm rãi lau sạch cây kèn bằng rượu, sau đó giao lại cho tôi.

Tôi nói:

– Thật khó tin, hóa ra ngươi cũng biết thổi kèn, chẳng mấy người Thượng Kinh biết trò này đâu.

Bùi Chiếu đáp:

– Cha mạt tướng từng đi sứ đến Tây Vực, trong số nhạc khí đem về có kèn tất lật, hồi nhỏ, mỗi lần rỗi rãi, mạt tướng thường tự học thổi kèn.

Tôi vỗ tay rồi cười, nói:

– À, ta biết, cha ngươi là Đại tướng quân Bùi Huống dũng mãnh. Cha ta và Bùi lão Tướng quân từng giao đấu một phen, cha ta cũng khen tài dụng binh của Bùi lão Tướng quân.

Bùi Chiếu nói:

– Khả hãn quá khen rồi!

Tôi bảo:

– Cha ta không tùy tiện khen người khác bao giờ đâu, cha ta khen cha ngươi là bởi ông ấy biết đánh trận thực sự.

Bùi Chiếu nói:

– Vâng!

Một câu “vâng” của hắn làm tôi tụt hứng ngay tức thì. May mà nhóm người Ba Tư lại bắt đầu ca hát, giai điệu du dương, thăm thẳm như chạm vào nỗi lòng người nghe. Mễ La uống thêm một chén rượu, biết chúng tôi không hiểu ý nghĩa của ca từ, tỷ ấy khẽ hát lại bằng chất giọng phổ thông ngọng líu ngọng lô. Thì ra, đám thương nhân ấy đang hát rằng:

“Trăng kia vằng vặc

Rọi khắp quê ta

Trăng tròn rồi khuyết

Chưa thấy quê nhà.

Sao kia lấp lánh

Chiếu khắp cố hương

Sông Ngân rực rỡ

Khó về quê hương.

Gió kia dìu dịu

Thổi khắp quê ta

Vầng dương lộng lẫy

Tỏa khắp quê nhà.

Nào đâu ai biết

Chôn mình núi nao

Nào đâu ai biết

Chôn ta sông nào.”


[1] Người Hồ theo nghĩa hẹp dùng để chỉ các sắc dân ngoại lai tại Trung Á và Tây Á.

 

[2] Tất lật: loại kèn dăm có ba lỗ, miệng kèn mạ vàng, hay còn gọi là kèn pili.

 

[3] Ngọc Môn Quan thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay, là trạm biên giới xa nhất về phía tây của Trung Hoa lúc đó. Tên Ngọc Môn Quan là do tất cả đá ngọc sản xuất ở Hòa Điền, Tân Cương thời xưa đều phải đi qua cửa ải này.

 

[4] Tuyết liên, hay còn gọi là hoa sen tuyết, một loài sen quý hiếm trong tự nhiên chỉ mọc trên các vách núi đá phủ đầy tuyết.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s