Hoa sen xanh 11.1

Chương 11

Đi theo Hốt Tất Liệt

“Người uyên bác, trí tuệ và đa mưu túc trí,

Sẽ dễ dàng thuyết phục kẻ nắm uy quyền;

Đại bàng tuy thống trị bầu trời,

Nhưng bằng lòng làm vật cưỡi của tiên ông.”

(Cách ngôn Sakya)

 

Năm 1253, tức năm Quý Sửu, Âm Hỏa theo lịch Tạng, tức niên hiệu Bảo Hựu thứ nhất, nhà Nam Tống, tức niên hiệu Mông Kha Hãn thứ ba, Mông Cổ.

 

Bát Tư Ba mười chín tuổi, Kháp Na mười lăm tuổi, Hốt Tất Liệt ba mươi tám tuổi.

– Em tỉnh rồi à?

Tôi uể oải hé mắt, bắt gặp nụ cười tươi rói, rạng rỡ hơn cả ánh mặt trời đang ghé sát bên mình. Đưa mắt nhìn xung quanh, thấy màn đêm bao phủ, đoàn người dựng trại trên một khu đất trống, bằng phẳng. Tôi thiếp đi trên chiếc chiếu trải trong lán trại của cậu ấy, sợ đêm trên núi khiến tôi bị lạnh, cậu ấy chu đáo đắp cho tôi một mảnh chăn. Bát Tư Ba bóp nhẹ đầu mũi tôi, nở nụ cười ấm áp:

– Lần này tiến bộ nhiều lắm, em chỉ thiếp đi có ba ngày, tám canh giờ, ít hơn lần trước hai canh giờ.

Tôi ngượng ngùng không biết nói sao.

Mười bảy tuổi đã trở thành lãnh tụ của một giáo phái, tháng Tám, năm thứ hai sau khi trở thành tân pháp vương Sakya, Bát Tư Ba tổ chức nghi lễ khai quang[1] tòa tháp thờ linh vị đại sư Ban Trí Đạt tại Lương Châu. Sau đó, cậu lên đường trở về Sakya từ hướng Dogans[2] theo di nguyện của người bác. Cậu phải trở về Sakya trước sinh nhật lần thứ hai mươi để chịu lễ thọ giới Cụ túc do đại đệ tử Ngũ Do Ba của đại sư Ban Trí Đạt chủ trì. Chuyến đi này kéo dài một năm, Bát Tư Ba đã trải qua sinh nhật tuổi mười chín của mình trong cỗ xe ngựa tròng trành trên những cung đường quanh co, hiểm trở.

Tôi vọt lên lòng cậu ấy, ngước nhìn nụ cười ấm áp của cậu ấy, báo tin khẩn:

– Kháp Na nhờ tôi nói với cậu, cậu ấy nhận được thư từ Sakya gửi đến, báo tin đại sư Ngũ Do Ba đã viên tịch từ hai năm trước, ngài mất sau đại sư Ban Trí Đạt khoảng ba ngày.

Kể từ lúc Bát Tư Ba lên đường, tôi gánh trọng trách đưa tin cho hai anh em họ. Sau khi được đại sư Ban Trí Đạt truyền cho phương pháp tu luyện quý báu, phép thuật của tôi ngày càng tiến bộ, cơ thể nhẹ như chim én, tốc độ nhanh như bay, chỉ bốn hoặc năm canh giờ là tôi có thể chạy cả ngàn dặm đường. Nhưng điều đáng xấu hổ là, cứ chạy đến nơi là tôi ngã vật ra, ngủ li bì mấy ngày liền. Nản quá, rõ ràng là tôi học hành không đến nơi đến chốn đây mà!

Xa quê hương gần mười năm, Bát Tư Ba không còn nhớ rõ dung mạo của đại sư Ngũ Do Ba nữa, chỉ nhớ mang máng rằng, đó là một ông lão hiền từ, nhân hậu. Nghe tin đại sư qua đời, Bát Tư Ba trở nên trầm buồn, cậu chắp tay, nhắm mắt tụng niệm một đoạn kinh văn. Tôi ở bên bầu bạn với cậu, cùng chia sẻ nỗi buồn. Tôi hỏi:

– Bây giờ cậu tính thế nào? Có trở về Sakya nữa không?

Sau một năm trời vượt núi cao, sông sâu, lúc này chúng tôi đang tiến vào địa phận của vùng Đức Khâm, thuộc Vân Nam, cách La-ta, cố đô của vương triều Tufan không còn bao xa nữa. Tuy nhiên, từ La-ta đến Sakya còn phải vượt qua mấy ngọn núi tuyết sừng sững, hiểm trở, hành trình này cũng mất chừng nửa năm. Năm mười tuổi, Bát Tư Ba đã rời xa đất Tạng nên giờ đây, cậu ấy rất khó thích nghi với khí hậu vùng cao nguyên băng giá này, trên đường đi, thường hay bị nhức đầu, khó thở, nhưng cậu ấy luôn kiên cường chịu đựng. Mùa đông sắp tới gần, trên các đỉnh núi, tuyết trắng đã bao phủ, đường đi càng gian nan. Bởi vậy, tôi luôn cầu mong, với lý do này, cậu ấy sẽ không đi tiếp nữa.

Bờ môi của cậu ấy nứt nẻ, tím tái vì thiếu dưỡng khí nhưng vẻ mặt nghiêm nghị, kiên định, từng lời thốt ra chắc như đinh đóng cột:

–  Chắc chắn sẽ về! Ta sẽ viết thư mời các vị cao tăng đại đức khác chủ trì buổi lễ thọ giới Cụ túc cho ta. Ta rời đất Tạng khi tuổi còn quá nhỏ nên mối quan hệ giao hảo với các giáo phái khác ở quê hương không mấy khăng khít. Ta muốn nhân dịp này, mời tôn sư của các giáo phái lớn đến chủ trì lễ thọ giới Cụ túc cho ta, để khỏa lấp những cách ngăn giữa ta với họ bấy lâu nay.

Cậu ấy vuốt ve sống lưng tôi, trầm ngâm hồi lâu, giọng nói bỗng chất chứa nỗi xót xa:

– Tuy bác ta lập ta làm pháp vương, nhưng chỉ e các thế lực khác trong giáo phái Sakya sẽ không chịu phục tùng. Nếu đại sư Ngũ Do Ba còn sống, với danh tiếng của một danh sư đức cao vọng trọng, chắc chắn ngài sẽ thuyết phục được mọi người. Nhưng ngài đã viên tịch, ta lo rằng nội bộ phái Sakya sẽ xảy ra tranh chấp. Bởi vậy, ta nhất định phải trở về.

Trong lòng tôi cũng canh cánh nỗi bất an. Em trai thứ hai và thứ ba của Bát Tư Ba năm nay cũng đã mười chín tuổi, và họ không có chút quyền thừa kế chỉ vì luật lệ đặc biệt của giáo phái này. Bây giờ, khi đại sư Ngũ Do Ba đã viên tịch, rất có thể hai người em trai và các thế lực của gia tộc họ ngoại của họ sẽ sinh lòng đố kỵ, muốn tranh đoạt quyền lực. Thêm vào đó, họ lại sinh ra và trưởng thành ở Sakya, có lợi thế của cư dân bản địa.

– Lâu Cát à, Kháp Na còn một thông tin nữa muốn báo cho cậu. – Tôi gõ gõ bộ vuốt lên đầu, ra sức nhớ lại mớ thông tin khô khan, phức tạp đó. – Mông Kha Hãn ban bố chiếu thư, chia đất Tạng cho các em trai của ngài là Hốt Tất Liệt, Húc Liệt Ngột và A Lý Bất Ca làm đất phong vương.

Mặt mày biến sắc, đôi môi của Bát Tư Ba càng tím tái:

– Vậy… còn phái Sakya thì sao?

– Được cắt cho công tử Khởi Tất. Nhưng công tử Khởi Tất cũng chỉ được cai quản vùng Sakya, vùng đất đai khác thuộc Wusi đều bị tước.

Tôi thở dài ảo não. Sakya thuộc vùng Hậu Tạng nghèo nàn, hẻo lánh, dân không quá vài nghìn, đất canh tác không quá nghìn mẫu. Xem ra, Mông Kha Hãn muốn tống khứ triệt để cháu con nhà Khoát Đoan ra khỏi trung tâm quyền lực của đất Tạng rồi!

Bát Tư Ba đặt tôi xuống chiếu rồi đứng lên, đi đi lại lại trong lán, dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu chiều muộn, gương mặt cương nghị với những đường nét như tạc tượng của cậu toát lên vẻ suy tư, đăm chiêu, già dặn không tương xứng với lứa tuổi của cậu. Cậu ấy trầm tư rất lâu mới quay lại nhìn tôi:

– Lam Kha, ta nhờ em một việc: hãy về đất Tạng trước và nghe ngóng xem phản ứng của các giáo phái lớn đối với chiếu thư của Mông Kha Hãn ra sao.


[1] Một nghi thức của Phật giáo. Sau khi hoàn tất một tòa tháp, một bức điêu khắc tượng Phật,… tín đồ Phật giáo chọn ngày lành tháng tốt, tổ chức nghi lễ kéo tấm vải niệm đỏ phủ trên công trình kiến trúc xuống, đánh dấu việc bắt đầu thờ cúng tượng Phật, tháp thiêng đó. (DG)

 

[2] Dogans: tiếng Trung Quốc cận đại gọi tắt là vùng Khang, chỉ phía đông bắc Xương Đô, Tây Tạng ngày nay, là một bộ phận của khu tự trị tộc người Tạng, huyện Ganzi và huyện Aba, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. (DG)

 

Nở rộ 11.2

Phương Diệc Thành vui vẻ nói: “Ừ, cô bé ấy rất đáng yêu.”

Cố Yên gượng cười, trong lòng cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn.

Phương Diệc Thành véo nhẹ vào mũi cô, lần này cô không lẩn tránh. Thật buồn cười, mình tự đa tình cự tuyệt anh ta bấy lâu nay, trong khi anh ta lại muốn gặp mình để hỏi thăm Tiểu Ma.

“Anh vốn định mời hai em đi ăn tối, nhưng thấy như thế hơi đường đột.” Anh cười, nụ cười thật rạng rỡ.

“Diệc Thành, thật xin lỗi anh!”

Phương Diệc Thành dập tắt điếu thuốc: “Cô bé ngốc, có gì mà phải xin lỗi? Quen nhau lâu vậy rồi, chẳng lẽ anh lại không hiểu tính cách của em sao? Là anh sai, anh làm em lo lắng.”

Cố Yên có chút xấu hổ.

“Lần trước anh nói, chúng ta sẽ là bạn tốt của nhau, nhưng thực ra anh thấy chúng ta thích hợp làm anh em hơn, được không em?”

Cố Yên nhìn anh với ánh mắt biết ơn: “Vâng, chúng ta kết nghĩa anh em nhé!”

“Được, em lên nhà đi, càng ngồi đây, mặt em càng đỏ lên rồi kìa. Nói thẳng ra thế này cũng tốt, ít ra lần sau gặp anh, em cũng không ngại nữa.”

Cố Yên gật đầu, rồi vội vàng xuống xe, đi lên lầu.

Đêm đó, xe của Phương Diệc Thành đậu dưới lầu tới tận khi trời sáng. Trong xe, anh không ngừng châm thuốc, lại một đêm thức trắng.

Bảy năm trước, cũng vào một đêm như thế này, anh trèo tường đột nhập vào Cố gia, từ cửa sổ anh leo lên tầng ba, với mục đích đưa cô đi Mỹ với anh.

Lúc đó nhiệm vụ của anh đã hoàn thành. Cố Bác Vân bị cách ly để thẩm tra, mặc dù không có chứng cứ trực tiếp chống lại ông, nhưng Cố gia cũng vì thế mà suy tàn.

Lúc đó Cố Yên mới biết được thân phận của anh. Cô hận anh đến tận xương tủy, nói thế nào cô cũng không chịu đi cùng anh. Đúng lúc hai người đang do dự thì Nguyễn Vô Song, người mà họ gọi bằng cái tên thân mật là dì Nguyễn xuất hiện với bộ mặt xanh nhợt. Bà ta chưa kịp đưa ra lý do đã cho Cố Yên một cái bạt tai, hai hàm răng nghiến vào nhau, bà ta rút súng nhằm thẳng đầu Phương Diệc Thành.

Nhưng cuối cùng, người chết lại là chính bà ta.

Cố Yên đau đớn ôm lấy bà ta và kiên quyết đuổi Phương Diệc Thành đi. Người trong nhà Cố gia nghe thấy tiếng động liền chạy tới. Phương Diệc Thành đã rời đi, còn người đàn bà nhân hậu luôn coi Cố Yên như con, giờ đang lịm đi trong vòng tay cô, thân nhiệt bắt đầu lạnh dần, lạnh dần…

Bà ta có tiền sử bệnh tim và đã chết trong vòng tay Cố Yên.

Sau đó, nhờ sự ra tay giúp đỡ của Lương thị, Cố Bác Vân mới bình yên trở về.

Về đến nhà, nhìn thấy di ảnh của vợ đang treo trên tường, ông đã không khống chế được cơn cuồng nộ, rút súng ra kề vào đầu Cố Yên, đuổi cô ra khỏi nhà.

Từ đó về sau, Phương Diệc Thành không thể nào gặp lại Cố Yên cho tới khi anh bị ép về phương Nam đóng quân. Ở phương Nam xa xôi ấy, anh luôn nhớ nhung cô gái xinh đẹp, dịu dàng có tên là Cố Yên. Có lúc anh nghĩ, giá như lúc đó mình chết dưới nòng súng của dì Nguyễn còn hơn là sống trong đau khổ, để rồi giờ đây phải nói với người mình yêu hơn bất cứ thứ gì trên đời là: “Cô bé đó tên gì? Cô ấy rất đáng yêu…”

Nào có đáng yêu? Trên đời này, ai có thể so sánh được với em? Trong trái tim anh, em là cô gái đáng yêu nhất rồi!

Nếu có một điều làm Cố Yên không hài lòng về công việc của mình thì đó chính là việc đi tiếp khách. Việc đàm phán, ký hợp đồng trên bàn rượu giờ đã không còn xa lạ nữa, nhưng đối với Cố Yên thì đó là việc không thể nào thích ứng được.

Người phụ trách tiếp khách trong công ty là một anh chàng họ Mã, hơn ba mươi tuổi, anh ta rất chuyên nghiệp trong việc giao tiếp xã giao.

Bọn họ nhiều khi nói những câu bông đùa tục tĩu khiến mặt Cố Yên đỏ ửng, khách hàng hôm nay là người Nhật Bản, cao, gầy, răng chỉ còn vài cái, tên Trung Quốc là A Vương. Ông ta vừa gắp thức ăn vừa quay qua chỗ Cố Yên thắc mắc: “Cô phiên dịch xinh đẹp này sao lại không uống chút rượu nhỉ?” Nói đoạn, lão ta nhấc ly rượu lên cụng ly với Cố Yên.

Cô ghê tởm cầm ly rượu nhấp một chút.

“Haizz! Anh Mã, cô phiên dịch này không nể mặt chúng tôi rồi!” Vừa nói lão ta vừa quay mặt sang chỗ anh chàng họ Mã trách móc, anh chàng họ Mã lại lườm Cố Yên một cái, rồi nói với ông chủ người Nhật kia: “Vương Tổng, nhân viên nhà chúng tôi còn non nớt lắm, mong ông chỉ bảo nhiều!”

“Còn non thì càng tốt chứ sao? Tôi thích những cô gái non nớt thế này!”

Nghe lão ta nói xong, cả đám người cười thật to.

Cố Yên tức đỏ mặt, cô rất muốn xông tới giúi đầu lão ta vào bát canh.

Lão Vương gằn giọng: “Em à, như thế là không được đâu đấy, phải chiều khách một chút chứ!”

Anh chàng họ Mã nói thêm vào: “Cố Yên, cạn một ly với Vương Tổng đi!”

Cố Yên vùng vằng đặt ly rượu xuống, mặt lạnh như tiền, nói: “Tôi không biết uống!”

Mặt anh chàng họ Mã có vẻ hơi khó xử, anh ta đặt ly rượu xuống, với lấy chai rượu mà bên trong còn hơn một nửa: “Ông Vương, cô Cố Yên nhà chúng tôi không biết uống, tôi sẽ uống thay cô ấy, ông xem như thế có được không?”

Ông Vương giọng lạnh băng: “Anh có thể thay được cô ấy sao?”

Trong phòng, tiếng cười đang rôm rả, bỗng một giọng nói đanh thép vang lên: “Thế tôi uống thay cô ấy, được không, Vương Tổng?”

Nhìn thấy người vừa đến, nụ cười liền tắt trên khóe miệng lão Vương: “Tần Tổng!” Công ty của lão Vương thuộc về tập đoàn Lương thị, nên đương nhiên lão ta biết mặt Tần Tống.

Tần Tống tháo chiếc cà vạt phiền toái trên cổ ra, bước tới cầm lấy chai rượu đang để trên bàn. Sự im lặng của gian phòng càng làm tiếng uống rượu ừng ực của Tần Tống rõ hơn. Uống xong, anh ta đập chai rượu vỡ tan, giọng đanh lại: “Thế này được chưa hả?”

Lão Vương được phen sợ chết khiếp, gật đầu lia lịa, lại bị ánh mắt sắc lẹm của Tần Tống làm cho hoảng sợ, cả người run lên bần bật.

Liếc mắt nhìn gương mặt đỏ bừng bừng của Cố Yên, Tần Tống cười nhạt, rồi bước ra ngoài.

Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Cố Yên. Thật đúng là mỹ nhân, vì chuyện này mà Tần Tống phải ra mặt khiến lão Vương được phen khiếp vía, tay chân rụng rời, phải có người dìu ra ngoài.

Anh chàng họ Mã mặt mày xám ngoét, miệng lẩm bẩm: “Hôm nay ngày gì mà xui đến mức này cơ chứ?”

Cố Yên chạy theo Tần Tống, đến cầu thang liền gọi anh ta lại.

“Cố tiểu thư có gì chỉ giáo sao?” Tần Tống lạnh giọng hỏi.

“Nói thế là có ý gì?” Từ trước đến nay, cô, Tần Tống và Lý Vi Nhiên thường trêu đùa nhau nên giữa bọn họ không có khoảng cách, giờ anh ta lại giở giọng lạnh băng khiến cô không biết phải nói sao.

Tần Tống vẫn giữ giọng lạnh lùng: “Cô nghĩ rằng tôi muốn giúp cô sao? Nếu không phải vì Kỷ Tứ và anh năm đang bận trông nom đại ca ở bệnh viện thì tôi đã không thèm tới đây rồi.”

Tim Cố Yên như đập mạnh hơn: “Lương Phi Phàm bị làm sao?”

“Không có gì.” Tần Tống nhếch mép cười nham hiểm. “Chỉ là sắp chết mà thôi!”

Ký ức độc quyền 2.2

2

 

Tên thật của Mộ Dung đại ca là Mộ Hải, quả nhiên cái tên ấy khác xa với ID Mộ Dung Thanh Phong. Anh ấy học ngành Thiết kế nội thất, giờ đang làm việc tại một công ty trang trí nội thất.

“Vậy anh là nhà thiết kế rồi?” Tống Kỳ Kỳ hỏi.

“Gì mà nhà thiết kế chứ.” Mộ Hải tự cười trêu. “Bây giờ tu sửa nhà cửa, chủ nhà đều yêu cầu phải tiết kiệm, phải đẹp, phải thực dụng, nhưng lại không chịu bỏ tiền vào khâu thiết kế. Thông thường họ chỉ ước tính căn nhà trong khoảng hai trăm ngàn, vì thế về căn bản không thể nói là có phong cách thiết kế hay không. Cũng chỉ là toilet, nhà bếp, ti vi treo tường, nhà nào cũng thế, rập khuôn theo một công thức.”

Nghe Mộ Hải nói thế, tôi đột nhiên nhận thấy thật ra người này cũng không tệ như chúng tôi đã dự đoán.

“Haizz…” Tống Kỳ Kỳ cũng thở dài. “Năm sau nữa là chúng ta tốt nghiệp rồi, đúng là khó thật, chẳng biết làm gì nữa.”

Bạch Lâm cúi đầu: “Mẹ mình bảo mình về quê tìm việc, mẹ nói ở thành phố A này không quen biết ai, khó lắm.”

Triệu Hiểu Đường nói: “Vẫn là Tiểu Đồng sướng nhất, nhà ở ngay đây.”

Tôi há miệng, nhưng không nói gì. Thật ra mỗi nhà mỗi cảnh, đều có những khó khăn riêng.

Chớp mắt đã là sinh viên năm ba, vậy mà cả ngày chỉ sống một cuộc sống mù mờ không lý tưởng, nghĩ đến ngày tốt nghiệp phải rời khỏi ngưỡng cửa nhà trường, bước ra xã hội, bỗng có cảm giác không mấy dễ chịu.

Nói đến đề tài này, cả bốn chúng tôi đều im lặng. Mộ Hải thanh toán xong, thấy tâm trạng mọi người ủ rũ nên rủ đi hát.

Vốn dĩ những chuyện gặp gỡ bạn bè trên mạng thế này, là một cô gái thì không nên đi, nhất là đến phòng karaoke để hát hò. Nhưng bốn người đi chung với nhau, gan đủ lớn nên cũng không sợ nữa, dù gì cũng đang rảnh rỗi, vậy cứ nghe theo ý kiến của Mộ Hải.

 

Tôi gào khô cả cổ, lát sau đứng dậy để đi toilet, bất ngờ lại gặp Mộ Thừa Hòa. Tuy chỉ là thấp thoáng nhìn thấy bóng lưng, nhưng lão ta có hóa thành tro thì cũng không thoát nổi cặp mắt của tôi.

Lão đứng nhìn ra cửa sổ, hình như là đang nghe điện thoại.

Tôi khẽ khàng bước đến gần hơn, định nghe lén xem lão đang nói gì để về lớp kể với mọi người, ngờ đâu mới rút ngắn được khoảng hai mét, thì lão đã cúp máy, quay đầu lại.

Tôi vội vàng quay lưng, giả vờ như đang đi, sau đó cầu thầm cầu nguyện: “Lão ta không thấy mình, lão ta không thấy mình…”

Ngay lúc này, Bạch Lâm mở cửa bước ra, nhìn thấy tôi, cũng lập tức nhìn thấy Mộ Thừa Hòa, cô ấy liền đứng nghiêm hét lên: “Chào thầy Mộ, thật là trùng hợp quá!” Sau đó, Bạch Lâm quay sang nhìn tôi: “Tiểu Đồng, cậu không thấy thầy Mộ sao? Ở đằng sau cậu kìa.”

Tôi xoa trán, không còn cách nào khác, quay lại nói: “Mộ… chào thầy ạ!”

“Hai em đến hát à?” Lão ta hỏi.

Hỏi rõ thừa, tới quán karaoke không hát, chẳng lẽ để ăn cơm.

“Dạ phải.” Bạch Lâm ngoan ngoãn gật đầu. “Bạn cùng phòng ký túc xá của tụi em gặp gỡ bạn trên mạng.”

“Bạn trên mạng?” Mộ Thừa Hòa nhìn vào căn phòng Bạch Lâm vừa bước ra, vẻ mặt cảnh giác. “Bạn trên mạng của ai?”

“Dạ… của Tiết Đồng.” Bạch Lâm lại lắc đầu. “Không không không, của Triệu Hiểu Đường.” Hình như câu trả lời này vẫn không ổn lắm, thế là cô ấy đành tự thú với vẻ oai phong, lẫm liệt: “Không, thật ra, là của em ạ!”

Triệu Hiểu Đường chọn học tiếng Pháp, không thuộc lớp Mộ Thừa Hòa dạy, đương nhiên là lão ta không quen biết cô ấy. Nhưng Bạch Lâm thay đổi câu trả lời hai lần liên tục như vậy, khiến người khác cảm thấy đây hoàn toàn là đang giúp tôi thoát tội.

Mộ Thừa Hòa có vẻ không tin, nhìn tôi một cái, nói: “Chẳng phải nhà trường đã nhắc nhở rất nhiều lần, bảo các em không được tùy tiện ra ngoài gặp bạn trên mạng sao? Đảm bảo an toàn thân thể là rất quan trọng!”

Đây là lần đầu tiên tôi thấy lão ta nói chuyện nghiêm khắc như thế ngoài giờ học, trông giống một ông cụ non vậy.

Bạch Lâm cười hi hi nói: “Thưa thầy, tụi em đảm bảo sẽ bảo vệ tốt bản thân. Lần này xin thầy rộng lòng bỏ qua cho ạ, lần sau tụi em không dám nữa.”

Dù Bạch Lâm đã đại diện chúng tôi đứng ra đảm bảo, nhưng Mộ Thừa Hòa vẫn không an tâm, lão ta để lại số điện thoại cho tôi và Bạch Lâm rồi nói: “Tôi phải đi rồi, nếu gặp chuyện khẩn cấp, nhất định phải gọi cho tôi.”

Lão ta đi nhanh vài bước rồi lại quay lại nói: “Tiểu Đồng, tôi có ý này.”

“Là gì?”

“Nếu như em thích hát, em có thể chọn bài Ai cũng bảo quê hương em đẹp.”

“Tại sao?”

“Em nghe thử là biết liền.” Lão ta cười cười. “Nhớ phải chọn bài của Bành Lệ Viện đấy.”

Ô! Hóa ra người này là fan hâm mộ của cô Bành à?

 

Tôi và Bạch Lâm cùng nhau từ nhà vệ sinh trở về phòng hát, thấy Tống Kỳ Kỳ đang cầm micro ngâm nga. Giọng cô ấy rất hay, nghe nói khi còn trẻ, mẹ cô ấy ở trong đội văn nghệ của nhà máy, chuyên làm công tác tuyên truyền, có lẽ vì thế mà ít nhiều cô ấy cũng được thừa hưởng chút gien di truyền từ mẹ, hát nhạc dân ca rất hay.

 

Ngay từ ngày nhập trường, Tống Kỳ Kỳ đã khác với ba chúng tôi.

Cô ấy học giỏi, tính tình dễ chịu, có thể xem là một cô gái hiền thục, mỗi năm đều nhận được học bổng cao nhất của trường, học kỳ này còn được kết nạp Đảng, nghe nói đến cả chơi piano cô ấy cũng thuộc cấp tám. Tóm lại là, bất kể xét từ phương diện nào, Tống Kỳ Kỳ cũng hơn hẳn chúng tôi một bậc.

Trường chúng tôi nổi tiếng cả nước với ngành Tự nhiên, đặc biệt là khoa Vật lý, trường luôn dẫn đầu và liên tục giành giải thưởng toàn quốc, trái lại ngành Xã hội thì không mấy nổi bật. Thật khó tưởng tượng một người có điểm thi cao nhất khóa như Tống Kỳ Kỳ lại thi vào khoa tiếng Anh, nhiều lúc tôi cũng cảm thấy ấm ức thay cô ấy. Có lần tôi hỏi Tống Kỳ Kỳ, nhưng cô ấy chỉ điềm nhiên trả lời: “Đại học A rất tốt, là trường nổi tiếng toàn quốc, hơn nữa, từ nhỏ mình đã thích học ngoại ngữ, nên học ở đây thôi.”

 

Tôi ngồi phịch xuống sofa: “Bấm cho mình bài Ai cũng bảo quê hương em đẹp.”

“Cậu hát á?” Triệu Hiểu Đường hỏi.

“Không, chúng ta nghe.” Tôi nghiêm giọng nói.

Triệu Hiểu Đường chẳng hiểu gì.

Bạch Lâm cười nói: “Nhiệm vụ thầy Mộ giao.”

“Ai là thầy Mộ?” Mộ Hải xen vào, tưởng chúng tôi đang nói đến anh ấy.

“Đi đi đi. Không phải nói anh.” Bạch Lâm nói.

Tôi bấm nút nghe giọng ca sĩ, tiếng hát của cô Bành từ từ truyền đến.

Những ngọn núi biếc xanh liền kề trùng điệp

Từng áng mây trắng tinh trôi dập dềnh quanh núi

Những mẫu ruộng bậc thang lớp lớp xanh non

Mỗi câu ca cất lên vang vọng trong từng cơn gió…

Tôi biết bài hát này và cũng đã nghe qua rất nhiều lần, nhưng từ trước đến giờ chưa từng chú ý xem lời bài hát có gì đặc biệt, thế là lúc này tôi cố gắng tập trung tinh thần nhìn phụ đề trên màn hình, suy xét từng câu chữ. Khi bài hát đến đoạn: “A… ai cũng nói quê em rất đẹp, tơ ra ớ ơ ớ ơ…

Âm bật hơi của cô Bành quả là rất du dương, uyển chuyển, ý vị vô cùng. Bạch Lâm tức thì hiểu ra, lập tức ôm bụng cười sặc sụa.

Tôi tức điên lên, gào tới ba lần: “Tiểu Bạch!!! Cười nữa đi!”

Thấy tôi không phủ nhận, Mộ Dung đại ca mặt mày hớn hở, ngay lập tức chăm sóc tôi rất chu đáo, ân cần. Tôi chưa bao giờ chơi game online, để tránh bị lộ tẩy khi trò chuyện, chúng tôi đều cố gắng nói về những chuyện khác, lúc nào đề tài có dính đến “chuyên ngành”, Bạch Lâm hay Triệu Hiểu Đường sẽ phụ trách nói mấy câu cho qua chuyện.

 

Nhưng Mộ Dung đại ca vẫn mãi lưu luyến với trò chơi trên mạng đó, bắt tôi cùng nhớ lại cảnh tượng lần đầu gặp nhau của “Tiếu Tiếu” và “Mộ Dung Thanh Phong”.

Triệu Hiểu Đường nhanh nhảu lái sang chủ đề khác: “À phải rồi, tại sao anh lại lấy họ Mộ Dung? Anh họ Mộ Dung sao?”

Mộ Dung đại ca vừa nghe thấy câu hỏi này lại càng hứng khởi, đĩnh đạc nói: “Không phải, thật ra anh họ Mộ. Nếu phải tìm về cội nguồn của cái họ này thì tiền thân của họ Mộ chính là Mộ Dung, sau này là giản thể hóa đi mà thôi, còn nếu tìm về tổ tiên thì anh thuộc tộc Tiên Ti[1].”

Bạch Lâm gật gù như đã hiểu: “Ồ, thầy giáo dạy tiếng Nga của tụi em cũng họ Mộ, chắc chắn cũng có nguồn gốc giống anh rồi.”

Cô ấy không nói thì thôi, nhắc một cái là tôi lập tức nghĩ ngay đến Mộ Thừa Hòa, tìm về họ gốc thì tên của lão ta sẽ là Mộ Dung Thừa Hòa, tôi hình dung trở về thời cổ đại, bắt lão ta để tóc dài, rồi cột lên, sau đó lão ta nhìn tôi, nở một nụ cười xinh tươi.

Tôi bỗng dưng rùng mình.

Gương mặt lão ta như thế, thật đúng là nỗi bi ai của phụ nữ, là nỗi sỉ nhục của đàn ông.

Mộ Dung đại ca nhìn thấy nét mặt quái lạ của tôi, khẽ hỏi ba người họ: “Tiếu Tiếu sao vậy?”

Bạch Lâm nói: “Anh làm nó mơ màng rồi.”

“Mơ màng?”

“Đại ca tên Mộ Dung Thanh Phong, sư phụ tên Mộ Dung Thừa Hòa, công tử nhà Mộ Dung thật khiến bạn ấy khó chọn mà.”

“Sư phụ? Cũng quen trên Tây du sao?” Anh ấy hỏi.

Tôi làm vẻ giận dỗi gõ đầu Bạch Lâm: “Đừng có tin lời bạn ấy!”


[1] Tiên Ti: Là một dân tộc thiểu số thời cổ, ở vùng Đông Bắc, Nội Mông, Trung Quốc.

 

Cánh thư 7.2

Anh có vẻ ngại, vội giải thích: “Như thế anh mới dẫn em được!”

Tôi sực hiểu ra vấn đề, liền ngoan ngoãn đưa tay ra.

Đó là lần đầu tiên tôi nắm tay con trai, lúc đó chỉ cảm thấy ngón tay Dương thon dài, lòng bàn tay ấm áp. Tôi được anh dắt, trượt chậm trên sân. Dưới ánh đèn, bóng hai chúng tôi lúc thì đan vào nhau, lúc lại tách ra. Gió táp nhẹ lên mặt tôi, thoang thoảng hơi thở của chàng trai trẻ. Tôi mơ màng tựa như đang chìm đắm trong giấc mơ ngọt ngào.

“Ấy, sao tay anh to thế?” Đột nhiên tôi phát hiện ra, so với bàn tay anh, tay tôi nhỏ hơn rất nhiều, liền ngờ nghệch hỏi.

Anh quay lại cười: “Ai bảo em thấp hơn anh!”

Ánh đèn dịu mắt hắt xuống mặt anh, nhìn nghiêng tựa như bức tượng điêu khắc của Hy Lạp. Tôi thẫn thờ nhìn, không để ý dưới chân có chỗ gồ ghề, liền ngã chúi xuống đất. Đến khi hoàn hồn, mới phát hiện ra đã làm liên lụy đến Dương, anh cũng bị ngã một cú. Hai đứa tôi ngồi dưới mặt đất lạnh cóng như hai kẻ ngốc, nhìn nhau mà không nói gì.

“Sao anh không bỏ tay ra trước?” Tôi lườm Dương.

Anh liền cười: “Tại sao lại phải bỏ tay ra?”

“…” Tôi không biết phải trả lời thế nào, liền hậm hực quay mặt đi. Dương không chịu được nữa liền bật cười. Tiếng cười phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch, mang lại hơi ấm cho đêm đông lạnh lẽo.

Dương à, hồi đó đúng là chúng mình chơi rất vui phải không? Nhưng cả anh và em đều không để ý, hôm đó còn có một người khác đứng gần đó. Từ đầu đến cuối, cô ấy không hề nói câu nào.

Dương, mùa đông lạnh quá! Em rất sợ lạnh.

Em không muốn quay lại mùa đông năm mười bốn tuổi đó nữa.

 

Mẹ nói rất đúng, quả nhiên sau ngày hôm đó tuyết đã rơi.

Vì vùng tôi ở không có nhiều tuyết lắm, cô giáo Ngữ văn dễ tính đã cho chúng tôi nghỉ một tiết. Cô cho chúng tôi ra sân vận động ngắm tuyết, sau đó về nộp một bài tập làm văn.

Mọi người reo hò lao ra khỏi lớp. Xuống đến sân, tất cả đều hít một hơi thật sâu rồi đùa nghịch với nhau.

Cảnh tuyết đẹp quá, tôi nhìn ngang nhìn dọc, lúc thì nghịch đám tuyết đọng trên cành cây, lúc lại nhảy lên gõ cột tuyết dưới mái trường. Thấy tôi không chịu yên phận như vậy, cô giáo liền cười hỏi: “Trác Ưu, em có biết hoa tuyết có hình gì không?”

Tôi chớp chớp mắt: “Không phải hình lục giác hả cô?”

“Không phải lục giác mà là bát giác!” Không biết Kỳ Duy từ đâu chui ra, bất ngờ buông ra câu đó.

Lập tức bạn bè xung quanh bắt đầu líu ríu tranh luận: “Lục giác!”, “Tứ giác!”, “Bát giác!”

Cô giáo mỉm cười dịu dàng, không vội phân giải. Một lát sau, đột nhiên cô nói: “Tuyết lại rơi rồi, các em tự quan sát đi!”

Quả nhiên, tuyết lại bắt đầu rơi lất phất. Rất nhiều người vội đưa tay ra đón, nhưng chưa ai kịp nhìn thì tuyết đã tan ngay. Mọi người đang rầu rĩ thì cô giáo mỉm cười nói: “Các em nhìn trên đầu Trác Ưu kìa, có rất nhiều hoa tuyết đấy!”

Thế là mọi người vội chạy đến vây quanh tôi, bầu không khí lại bắt đầu náo nhiệt: “Lục giác mà!”, “Bát giác mới phải!”, “Tớ nghĩ là tứ giác…”

Tôi nín thở giữa đám đông, chỉ sợ một động tác nhỏ sẽ khiến đám tuyết đậu trên đầu tan mất. Tôi lặng lẽ nhìn bạn bè, đột nhiên cảm thấy chỉ cần được hơi thở của mọi người bao vây, mùa đông có thể rất ấm áp.

“Ấy, các cậu nhìn này! Đầu Trác Ưu trông như được rắc đường kính ấy nhỉ?” Đột nhiên Tô Tịnh la lớn.

Mọi người đều bật cười: “Trác Ưu là kẻ ăn trộm đường kính!”

Tôi ngẩng đầu lên nhìn Tô Tịnh, mặt cô bạn đang đỏ ửng vì lạnh, nụ cười rạng rỡ, duyên dáng đứng giữa màn tuyết.

Tôi mặc kệ họ trêu đùa, lại còn ngờ nghệch cười theo. Đúng lúc này, đột nhiên tôi phát hiện thấy trong một ô cửa sổ ở khu lớp học trước mặt cũng có một kẻ đang cười. Định thần nhìn lại, hóa ra là Dương, dường như anh không hề chú ý nghe giảng, tay chống cằm, nhìn về phía chúng tôi cười, nét mặt rạng rỡ như ánh mặt trời.

Dương à, đó thực sự là nụ cười tươi tắn! Nhưng em muốn biết: Thời điểm đó, rốt cuộc là anh đang nhìn ai trong đám đông?

 

Tuyết rơi liên tục mấy ngày liền, tôi không có việc gì để làm, bèn đắp một người tuyết nhỏ trong chậu hoa của nhà. Vừa hoàn thành công trình, liền chạy sang nhà Kỳ Duy khoe: “Tớ có người tuyết nhé!”

Cậu ta nhìn tác phẩm của tôi, sửng sốt hỏi: “Sao lại rỗi rãi thế? Không phải ngày nào cậu cũng chơi với đám Sử Vân đó sao?”

“Hả?” Tôi sững lại: “Mấy ngày nay bọn họ có hẹn tớ đi chơi đâu! Chắc là do tuyết rơi nên mọi người đều không muốn ra ngoài.”