1981 5.2

“Không uống thuốc cũng được thôi, nhưng không uống rượu thì không được.” Tôi chậm rãi cất tiếng. Trước đây khi ở nhà tôi đã từng không ít lần theo ông nội ra ngoài khám bệnh, cũng từng gặp không ít ông lão có tính cách cố chấp thế này, tất nhiên là cũng hiểu cách nói chuyện với bọn họ.

“Cái gì, uống rượu?” Ông lão lập tức ngoảnh đầu lại, đôi mắt rực sáng nhìn tôi: “Nhóc con vừa nói là ông có thể uống rượu đúng không, tốt, tốt, cháu nhất định là có bản lĩnh lớn rồi.” Nói xong lại quay sang lớn tiếng quát lên với Đội trưởng Lưu: “Tôi sớm đã nói là uống rượu không có vấn đề gì rồi, các người còn cản tôi. Bây giờ không còn gì để nói nữa chứ hả, bác sĩ người ta cũng đã nói là tôi có thể uống rượu rồi.”

Tôi thấy bộ dạng của Đội trưởng Lưu có vẻ như sắp khóc đến nơi, trong lòng thầm cảm thấy tức cười, nhưng vẫn lên tiếng khuyên can: “Rượu thì đúng là có thể uống, nhưng mà phải điều độ, hơn nữa còn không được uống bừa bãi, nhất định phải là loại rượu thuốc mà cháu pha chế cho ông.”

“Thì ra nhóc con đánh lừa ông, uống rượu thuốc có gì ngon đâu chứ, chẳng có tí mùi rượu nào.” Ông lão tức tối vô cùng, giọng nói cũng không còn vui vẻ như trước đó nữa.

Tôi nói: “Ông cứ yên tâm đi, chắc chắn là có mùi rượu mà. Nếu không có mùi rượu có khi còn không chữa được bệnh thấp khớp của ông ấy chứ. Nhưng nói gì thì nói, ông cũng cần cho cháu xem cái chân của ông trước đã, như vậy thì mới có thể cho thuốc đúng bệnh được ông ạ. Nếu không, dù cháu có phương thuốc gia truyền cũng không thể dùng bừa bãi được.”

Lần này thì ông lão không từ chối, nhưng trong miệng vẫn còn lẩm bẩm: “Có rượu dù gì cũng tốt hơn là không có.”

Tôi xem kỹ cái chân của ông lão rồi mặc kệ ông lão tỏ ra khó chịu, coi như ông lão đã đồng ý rồi, liền xoay người lại bảo Đội trưởng Lưu đi lấy giấy bút, sau đó viết ra hai đơn thuốc đưa cho anh ta, còn dặn dò thêm: “Đều là dùng để ngâm rượu đấy, loại thứ nhất là rượu uống, còn loại thứ hai là dùng bên ngoài, khi đau thì trực tiếp xoa rượu thuốc lên đó là được. Đợi hai tháng nữa tôi sẽ quay lại, xem tình hình thế nào rồi đổi đơn thuốc.”

Đội trưởng Lưu vội vàng nhận lấy, trịnh trọng cảm ơn.

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp, sau đó liền xin phép từ biệt để ra về. Cô Lưu ra sức muốn giữ tôi lại ăn cơm, dù bụng tôi đang rất đói, nhưng ngại không muốn ở lại. Tuy hôm nay đúng là tôi đã khám bệnh cho ông Lưu, nhưng tôi cũng đã sai phái Đội trưởng Lưu suốt cả ngày rồi, lát nữa còn phải nhờ anh ta đưa về nữa.

Khi tôi đang đưa đẩy với cô Lưu, bên ngoài chợt có một người đàn ông trung niên đi vào. Trên người ông ta mặc một bộ quần áo kiểu Tôn Trung Sơn đã bạc màu, đeo một đôi kính mắt, trông dáng vẻ rất thư sinh, giống như một thầy giáo của trường trung học nào đó gần ở đây vậy.

Chợt nghe Đội trưởng Lưu gọi “cha” một tiếng, tôi không khỏi giật nảy mình. Ông chú trông có vẻ thư sinh này có nhìn thế nào cũng không giống cha của một gã vai u thịt bắp như Đội trưởng Lưu.

Chú Hàn nào đó vừa ngồi trong nhà nói chuyện với ông Lưu cũng đã đi ra, nhìn thấy cha của Đội trưởng Lưu, liền cười nói: “Huyện trưởng Lưu về rồi sao.”

Người đàn ông trung niên trông có vẻ giản dị như một thầy giáo trung học này không ngờ lại là huyện trưởng của huyện chúng tôi! Tôi lại một lần nữa chấn động.

 

Thực ra Trần Gia Trang cách thị trấn không xa, có Đội trưởng Lưu lái xe hộ tống, chưa tới một giờ tôi đã về đến thôn rồi. Chiếc xe bốn bánh của anh ta vừa mới vào thôn, lập tức có rất nhiều người dân chạy đến ngắm nhìn, đám trẻ choai choai thì chạy lăng xăng khắp nơi, miệng không ngừng hò hét: “Mau ra đây xem xe hơi này, nó có bốn bánh cơ nhé.”

“Ối chà, đây là xe từ đâu đến nhỉ?”

Có người nhìn qua cửa sổ xe thấy tôi, vội vàng co cẳng chạy tới nhà chú Ba báo tin: “Chú Ba, thím Ba ơi, cô em họ Chung được người ta dùng xe hơi đưa về này!”

Nghe đấy, nghe đấy, cứ như thể tôi là tù nhân bị người ta áp giải về vậy.

Chiếc xe jeep chạy thẳng một mạch đến cửa nhà chú Ba, chúng tôi vừa xuống xe, hai chú thím liền lập tức chạy ra đón. Nhưng Tiểu Minh Viễn chạy còn nhanh hơn bọn họ, loáng cái đã ôm chặt lấy chân tôi. Tôi vội khom người xuống bế nó lên, hôn đánh chụt một cái lên má nó, lại hỏi mấy câu kiểu như cháu có nghe lời không, có ngoan không. Tiểu Minh Viễn ra sức gật đầu lia lịa.

Thím Ba không biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, liền ghé đến bên cạnh tôi cất tiếng hỏi nhỏ: “Thế này là sao thế cháu, là sao thế cháu? Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

Tôi dở khóc dở cười đáp: “Không có gì đâu thím, chỉ là đồ nhiều quá, nên cháu nhờ Đội trưởng Lưu đưa về thôi.” Sau đó lại vẫy vẫy tay với Đội trưởng Lưu, nói: “Cảm ơn nhé, hay anh vào nhà uống chén trà rồi hãy đi!” Nói xong, tôi lại nhờ chú Ba tới chỗ thùng xe giúp chuyển đồ xuống.

Đội trưởng Lưu khẽ gật đầu, lẳng lặng tới giúp chú Ba mang đồ xuống.

Đợi sau khi chúng tôi vào nhà, mọi người trong thôn ở bên ngoài nói chuyện một lúc, rồi cũng dần tản đi.

 

Chú Ba và Đội trưởng Lưu ngồi trên giường lò nói chuyện, tôi bế Tiểu Minh Viễn cùng thím Ba vào bếp đun trà, nhân tiện kể lại chuyện ngày hôm nay. Thím Ba nghe xong, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng kêu lên: “Cháu đúng là bác sĩ sao, vậy thì tốt quá, sau này trong thôn chúng ta nhỡ có ai bị đau đầu cảm cúm thì cũng tiện hơn nhiều rồi. Cháu không biết trong thôn không có bác sĩ bất tiện đến chừng nào đâu. Trước đây lỡ mà bị ốm, mọi người đều phải cố chịu, nếu quả thực không chịu được thì mới lên xã mua bừa chút thuốc gì đó. Còn vị bác sĩ chân trần trên xã thì chỉ biết tiêm penicillin cho người ta, mặc kệ bệnh gì cũng thế hết.”

Nói xong, thím lại khen tôi thêm một lần nữa, khiến tôi không khỏi có chút xấu hổ. Tiểu Minh Viễn ngồi trong lòng tôi thì mở to đôi mắt tròn xoe, khuôn mặt đầy vẻ ngưỡng mộ.

Thím Ba lại nói: “Tiểu Minh Viễn sau này phải học theo cô cháu đấy nhé, học được bản lĩnh rồi, có sự nghiệp rồi, như thế mới có thể báo đáp cô cháu cho tốt!”

Tiểu Minh Viễn nghiêm túc “dạ” một tiếng, như thể thật sự có thể hiểu được lời của thím Ba vậy.

Tôi bật cười, lẩm bẩm nói: “Cháu cũng không mong nó có sự nghiệp gì to lớn, chỉ cần nó có thể lớn lên thành người, không đi học mấy thứ xấu xa, vậy là đã tốt lắm rồi.”

Thím Ba khẽ trách: “Trông cháu nói kìa, Tiểu Minh Viễn là đứa bé ngoan ngoãn hiểu chuyện, trưa nay còn giúp thím nhóm lửa đấy. Mà suốt cả ngày nó đều đi theo thím, không hề nghịch ngợm chút nào, thím chưa từng thấy đứa bé nào dễ trông như vậy. Sau này có cháu dạy dỗ, một đứa bé ngoan như vậy làm sao mà thành người xấu được chứ, cháu đừng có lo lắng vớ vẩn nữa đi!”

Ôi bà cố nội của tôi ơi, tôi quả thực không lo lắng vớ vẩn chút nào!

Tôi nhìn Tiểu Minh Viễn trong lòng với tâm trạng hết sức phức tạp, lại đưa tay xoa nhẹ mái tóc mềm mại của nó, muốn nói gì đó, nhưng không biết rốt cuộc nên nói gì thì tốt.

Thằng bé rất nhạy cảm, dường như đã nhìn ra được điều gì trên khuôn mặt tôi, ánh mắt liền trở nên hết sức rụt rè, cứ như sợ làm tôi giận. Mãi một lúc lâu sau, nó mới nói khẽ: “Cô ơi, sau này cháu sẽ nghe lời, sẽ không trở thành người xấu đâu.”

Trái tim tôi như đột nhiên bị thứ gì đó đâm mạnh, khiến lồng ngực đau nhói. Bắt đầu từ ngày nhận nhiệm vụ, tôi luôn có một ý nghĩ: nó là Kim Minh Viễn của hai mươi chín năm sau, là một kẻ đã từng phạm tội giết người, nhưng đối xử như thế với một đứa bé đáng thương là một điều tàn nhẫn đến mức nào cơ chứ. Tuy trước giờ tôi vẫn luôn dịu dàng với nó, nhưng một đứa bé nhạy cảm như nó liệu có phải sớm đã phát giác ra điều gì rồi không?

“Cô tin cháu!” Tôi trịnh trọng trả lời: “Tiểu Minh Viễn của cô vừa thông minh vừa chính trực, sau này chắc chắn sẽ trở thành một người đàn ông tốt.”

“Sau này cháu cũng muốn làm bác sĩ.” Tiểu Minh Viễn cuối cùng đã chịu nở nụ cười. Trong khoảnh khắc đó, ánh mặt trời dường như đã soi rọi khắp căn phòng, thế giới cũng trở nên rực rỡ hơn.

“Bác sĩ à…” Tôi thấy có chút khó xử, làm bác sĩ quả thực không phải là một chuyện dễ dàng, chỉ riêng việc đi học đã có thể khiến người ta phát điên: “Đây là chuyện của tương lai, chúng ta cứ để tương lai hãy nói, nhé!” Ai mà biết được sau này nó sẽ có hứng thú với nghề nào chứ. Kiếp trước không phải nó mở công ty cũng rất phát đạt đó sao… Ôi, phì, sao tôi lại nhắc đến chuyện kiếp trước làm gì chứ.

 

 

Thoáng qua 1.4

Về đến nhà, tắm rửa xong cũng đã muộn, trời rất lạnh, cô chui vào chăn ấm, thật dễ chịu, đang khoan khoái nghĩ, giấc ngủ đã đến ngay. Đang thiu thiu thì có tiếng chuông điện thoại, thò tay ra khỏi chăn mò tìm nhưng mãi không thấy, bực mình, cô lẩm bẩm: “Không biết gã khùng nào giờ này còn quấy rầy người ta!” Làm xuất nhập khẩu là vậy, lúc người ta ngủ thì mình đi làm, người ta đi làm thì mình ngủ. Vất vả là thế, nhưng kiếm miếng cơm đâu có dễ, vậy mà nhiều khi vẫn phải nói dối. Hôm đó, mẹ gọi điện hỏi công việc có vất vả không, cô trả lời: “Vất vả gì đâu mẹ, chủ yếu là dùng ngoại ngữ nói chuyện, trao đổi với khách hàng người nước ngoài thôi mà.” Cô không muốn để mẹ lo lắng.

Chuông điện thoại reo mấy lần, có lẽ người gọi thấy cô không nhấc máy, liền thôi. Tử Mặc nhẹ cả người, khỏi phải sờ soạng tìm điện thoại trong đêm tối, cô lập tức thiếp đi. Ngày hôm sau, khi tìm được điện thoại, giở ra xem, là một số di động, nhưng không phải số máy của khách hàng, tưởng là ai đó nhầm máy nên cô cũng không bận tâm.

Triệu Tử Mặc bỏ bao công sức, vất vả mãi mới thuyết phục được một khách hàng người Đức, giành được đơn hàng lớn, nhận được phiếu lĩnh tiền thưởng, lòng vui như Tết. Vội gọi điện cho mẹ, sau khi kiên nhẫn nghe mẹ phàn nàn một hồi cô mới thấy yên lòng, định bụng hôm nay nhất định phải về sớm, mua ít thức ăn tươi tự thưởng cho mình.

So với các cô gái thành thị thời nay, Tử Mặc có một ưu điểm nổi bật là biết nấu ăn. Khẩu vị của người phương Bắc khác người phương Nam, cho nên cô không thích đồ ăn ở đây lắm. Mỗi khi làm thêm, cô luôn phải dùng đồ ăn nhanh, chán ngấy. Hôm nay lòng vui phơi phới, muốn làm mấy món ăn mang hương vị quê nhà cho thỏa cơn thèm. Ha ha… Mới nghĩ đến đã ứa nước miếng.

Thành phố nhỏ quê hương cô sông ngòi chằng chịt, đâu đâu cũng có nước, vì thế cá là món ăn phổ biến nhất trong mỗi bữa ăn gia đình. Món sở trường của bố là cá. Món ngon nhất là canh cá diếc, đậu phụ, nấm hương nấu với chân giò hun khói. Đầu tiên rán cá lên, cho gừng, rượu vàng[1] vào nồi, đổ thêm nước đun đến gần cạn, trút chân giò hun khói và nấm hương thái nhỏ vào đun vừa lửa. Đến khi nước chuyển sang màu trắng đục thì bỏ đậu phụ vào, đến khi nhấc nồi ra mới cho hành. Món canh có màu hồng của thịt chân giò hun khói, màu trắng đục của cá diếc nấu nhừ, màu xanh của hành, mùi thơm của cá và nấm hương, vừa đẹp mắt lại dậy mùi thơm, chỉ ngửi thôi đã thấy thèm. Mỗi lần bố làm món đó, cô đều ăn đến no căng.

Hồi nhỏ, Tử Mặc thích quanh quẩn trong bếp xem bố nấu ăn, không có ý định học nhưng cũng biết làm. Mùi thơm của món ăn, khói trắng nghi ngút vẫn còn trong ký ức. Bây giờ nhớ lại, hình như những thứ đó chính là hình ảnh của tuổi thơ.

Còn chưa hết giờ làm, Sính Đình đã gọi điện: “Xong việc chưa? Cùng đi ăn nhé!”

Tử Mặc một tay giữ điện thoại, tay kia vẫn ra hiệu cho Thẩm Tiểu Giai nội dung chuyển fax: “Đi ăn à? Không được, hôm nay mình muốn về nhà ăn.”

“Về nhà? Chẳng lẽ ở nhà đang có người đợi cậu?” Sính Đình cười, hỏi vặn, khẩu khí hơi khác, dường như có ẩn ý gì.

Tử Mặc đang bận nên không nhận ra: “Ai đợi chứ, cậu thừa biết người ta chỉ có một mình, chẳng qua hôm nay không muốn ăn ở ngoài, muốn về nhà tự nấu cơm ăn!”

“Tự nấu? Thật không? Sao chưa bao giờ nghe cậu nói biết nấu ăn?”

Cô bật cười: “Không biết à? Còn nhiều thứ cậu không biết lắm!”

Sính Đình cũng cười, nhưng không nhượng bộ: “Thôi, hôm nay đừng về nhà nữa, ra ngoài ăn cho vui. Về nhà có một mình, cậu bày vẽ cả bàn đầy thức ăn, ăn một mình, buồn chết!”

Ăn với đám bạn của Sính Đình bao giờ cũng thoải mái hơn đi ăn cùng khách hàng, huống hồ mình chỉ là nhân vật phụ, đi làm nền cho người đẹp Sính Đình cũng chẳng sao!

Bữa ăn do Diêu thiếu mời. Thực ra Tử Mặc không biết rõ tên của từng người bọn họ, một mặt là do cô không để ý, mặt khác họ thường không gọi đủ họ tên. Khi ăn, Diêu thiếu ngồi cạnh cô, rất chăm chỉ gắp thức ăn cho cô.

Anh ngồi đối diện cô. Trong ấn tượng của Tử Mặc, hình như họ hay ngồi đối diện nhau. Mỹ nhân quốc sắc thiên hương lần trước đã được thay bằng người khác, một cô nàng cực kỳ yểu điệu, cách hơi xa, cô nhìn cũng không rõ lắm, nhưng chắc chắn cũng là một mỹ nhân.

Có lẽ cả ngày nghĩ đến mấy món ăn mình định làm, cho nên khi nhìn một bàn đầy thức ăn cô cảm thấy hơi ngán, không muốn động đũa. Nghe họ kể bao nhiêu chuyện tiếu lâm, có chuyện hơi tục, có chuyện cực kỳ tục, cô chỉ khẽ mỉm cười, gẩy đi gẩy lại chỗ thức ăn đầy dầu mỡ trong bát. Vừa ngẩng đầu, lại bắt gặp ánh mắt anh đang tư lự nhìn mình.

Sau khi ăn xong, mọi người vẫn chơi mấy trò tiêu khiển cũ, kéo nhau đến câu lạc bộ. Sính Đình biết Tử Mặc hằng ngày bận rộn nên nhất định kéo cô đi spa. Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, Sính Đình hỏi: “Cậu và Giang thiếu thế nào rồi?”

Cô giật mình, nhưng mặt vẫn thản nhiên: “Thế nào là sao? Mình và anh ta có gì chứ!”

Sính Đình nhếch mép: “Đừng vờ vịt nữa! Trong bữa ăn hôm nay, mình thấy anh chàng liếc về phía cậu mấy nghìn lần.”

Tử Mặc không hề nhận ra, cô hơi sững người, nói: “Chắc cậu nhầm, trên mặt mình đâu có vật thể lạ gì đâu!”

Sính Đình nhìn cô một lát, nói nhỏ: “Tử Mặc, cậu cũng nên yêu đi, không thì uổng phí những điều tốt đẹp bố mẹ đã ban cho. Nhưng mình cũng nhắc cậu, những gã này chẳng mấy người thật lòng đâu. Như mình và Tôn Bình Hoa, cậu tưởng sẽ đi đến kết quả ư? Chỉ vì mình thích anh ấy thôi, được lúc nào hay lúc ấy. Còn Tôn Bình Hoa, chẳng qua bố mẹ còn chưa nhắm cho đám nào, nên tạm thời cứ thế.”

Cô hiểu Sính Đình đang nói chuyện riêng tư rất thật lòng, nhưng quan hệ giữa cô và Giang thiếu thì không tiện nói, bởi càng nghĩ càng thấy mông lung.

Sính Đình cũng chẳng bận tâm những lời gan ruột của mình liệu Tử Mặc có bỏ vào tai không, cô lại nói tiếp: “Còn Giang thiếu, có lẽ cậu cũng nhận ra, cả nhóm bọn họ có ai không nịnh anh ta? Tuy cùng là tầng lớp trên nhưng vẫn có phân biệt. Có một số việc mình không tiện nói nhiều.”

Cô vốn không có ý định quan hệ với bọn họ, nhưng vẫn rất cảm kích lời nhắc nhở của Sính Đình.

Đến khi ra về, cuối cùng chỉ còn lại hai người, cô mới phát hiện người đẹp yểu điệu bên cạnh anh không biết đã đi đâu. Anh chỉ liếc cô một cái, nói: “Tôi đưa cô về.”

Tử Mặc cười cười coi như đồng ý.

Lên xe, hai người cũng không có gì để nói, bật thiết bị sưởi, hơi ấm hòa với mùi đặc trưng của lớp da bọc ghế, trong xe phảng phất mùi thơm không dễ chịu. Xe nhanh chóng dừng lại trước cổng khu chung cư của cô, Tử Mặc cảm ơn rồi bước xuống. Vào đến phòng, cởi đôi bốt ra, cả người mệt nhoài không muốn động đậy, vừa lao lên giường, chăn ấm đệm êm, chắc chắn sẽ ngủ ngay.

Mơ màng nghe thấy tiếng chuông điện thoại, cô vẫn cuộn tròn trong chăn chẳng buồn nhúc nhích. Nhưng nghĩ đến đơn hàng lớn của vị khách hàng người Đức, nghĩ đến món tiền thưởng nóng bỏng tay, thôi được, đành giơ đầu cho người ta hành hạ! Nghĩ vậy cô mới uể oải bò ra khỏi tấm chăn ấm, cầm máy. Kết quả là cô “a lô” mấy tiếng, chẳng thấy ai trả lời, bực mình lẩm bẩm: “Đồ điên nào quấy rầy người ta vào lúc này không biết?” Sau đó “tạch” một tiếng, cúp máy.

Mắt nhắm mắt mở nhìn số máy hiện trên màn hình, hình như không phải số máy của vị khách hàng người nước ngoài đó. Một hồi lâu sau, chuông điện thoại lại “ting tang ting tang” ngân vang. Cầm lên nhìn, vẫn là số máy đó, một số máy lạ, cô nhấn nút nhận, một giọng nam khẽ vang lên: “Là tôi đây!” Cô ngây ra một hồi, mới ấp úng đáp: “Vâng.”

Đầu dây bên kia mãi không nói gì, cô cũng không tiện ngắt máy. Lại một lúc lâu nữa anh mới nói, giọng có gì rất lạ, hình như hơi giống giọng âu yếm của các đôi tình nhân: “Hôm đó… hôm đó… tôi không sử dụng biện pháp gì!”


[1] Rượu vàng là một loại rượu đặc sản của vùng Giang Nam, còn gọi là rượu gia vị.