1981 5.1

Này, cô đợi một chút, đợi một chút!”

Tôi hùng hùng hổ hổ đi thẳng về phía trước, Đội trưởng Lưu hớt ha hớt hải đuổi theo phía sau: “Tôi nói này… Sao cô nóng tính như vậy chứ, tôi có chỗ nào không phải với cô đâu. Này, cô đợi một chút…”

Chân anh ta dù sao cũng dài hơn chân tôi rất nhiều, chỉ vài ba bước chân là đã chạy được lên phía trước và chặn tôi lại. Có điều khuôn mặt anh ta lúc này đã không còn vẻ nặng nề như ban đầu nữa, mà trở nên khách sáo vô cùng: “Vừa nãy quả thực là tôi không đúng, cô đừng giận. Bây giờ cho tôi xin lỗi cô, vậy có được không?”

Người ta đã xin lỗi như vậy rồi, tôi cũng không cần thiết phải làm bộ làm tịch gì nữa, có điều tôi thật sự không hề nói dối chút nào: “Tôi cũng chẳng giận gì anh cả mà thật sự có việc cần làm. Giờ tôi phải tới hợp tác xã mua bán mua một đống đồ đây này, rồi còn phải quay về nữa, nếu không thằng bé ở nhà sẽ quấy khóc mất.”

“Cô muốn mua cái gì tôi sẽ đi cùng cô, rồi sau khi khám bệnh xong tôi sẽ lái xe đưa cô về tận nhà. Đúng rồi, nhà cô ở xã nào nhỉ?” Lần này thái độ của anh ta quả thực rất thành khẩn, xem ra người bị bệnh thấp khớp lâu năm đó có quan hệ rất sâu sắc với anh ta, không phải cha đẻ thì là mẹ đẻ, bằng không ắt cũng là cha vợ.

“Anh có xe sao?” Tôi khẽ mỉm cười, hỏi bằng giọng hơi xấu xa. Bây giờ mới là đầu thập niên tám mươi, chẳng lẽ cục Cảnh sát đã mua xe cho những người cấp đội trưởng rồi sao?

“Cái này cô không cần quan tâm, tôi đảm bảo sẽ đưa cô về.” Đội trưởng Lưu vỗ ngực nói.

Đàn ông con trai nói một là một, hai là hai, anh ta đã nói như vậy rồi, tôi tất nhiên không có lý do gì để nghi ngờ. Hơn nữa, ngay đến hợp tác xã mua bán ở đâu tôi cũng còn chưa biết.

Chúng tôi nói chuyện với nhau một lát, rồi tới hợp tác xã mua bán mua đồ. Trước lúc đi thím Ba đã liệt kê cho tôi một danh sách rất dài, toàn là những món đồ cần mua, tôi lại thêm vào một số thứ nữa, vừa vào cửa đã đưa ngay tờ danh sách đó cho nhân viên bán hàng.

Nói đúng ra thì nhân viên bán hàng ở hợp tác xã mua bán thời này còn rất kiêu căng, lúc tôi vào cửa liền thấy bọn họ đang túm năm tụm ba ngồi nói chuyện, bên cạnh có một ông lão nông dân gọi suốt một hồi lâu mà chẳng ai thèm để ý đến. Nhưng vừa nhìn thấy chúng tôi đi vào, thái độ của bọn họ lập tức thay đổi ngay, cũng không biết là nhờ oai hùm của Đội trưởng Lưu, hay là do chiếc áo nỉ lông cừu trên người tôi lúc này.

Cô nhân viên bán hàng vừa kê khai hàng hóa vừa nói chuyện với tôi, lát sau còn hỏi dò tôi xem chiếc áo này mua ở đâu, bao nhiêu tiền. Tôi bèn kiêu ngạo trả lời: “Cũng không đắt đâu, có hơn sáu mươi đô la Hồng Kông, tôi nhờ bạn tôi ở Hồng Kông mang về hộ đấy.”

Sắc mặt của cô nhân viên bán hàng lập tức trở nên xanh lét. Đội trưởng Lưu ở bên cạnh bật cười.

Nhưng tôi quả thực không lừa gạt gì cô ta, nói hơn sáu mươi đô la Hồng Kông còn là bớt đi nhiều rồi đấy, rõ ràng là phải hơn sáu trăm mới mua được.

Đợi sau khi tất cả đồ đạc đều được mang ra, Đội trưởng Lưu bèn kêu cô nhân viên bán hàng lấy cho một chiếc bao tải lớn, nhét hết mọi thứ vào trong, tiện tay vác lên vai mình. Đến bây giờ tôi mới nhận ra, mang theo một người đàn ông đi mua đồ đúng là chuyện tốt, coi như có một người khuân vác miễn phí luôn.

“Xong chưa vậy?” Anh ta hỏi.

“Vẫn chưa.” Tôi đáp: “Anh có biết lò mổ ở đâu không, tôi phải đi mua ít thịt lợn.”

Lần này thì đến lượt khuôn mặt anh ta trở nên xanh lét: “Chạy từ dưới xã lên tận đây mua thịt lợn, cô thật biết giày vò người khác đấy!”

Tôi cất tiếng cười vang: “Không phải là đúng dịp đi lên thị trấn sao, hơn nữa, nếu tôi mua ở xã, một lần mua hết thịt lợn luôn, người khác phải làm sao đây chứ?”

Đội trưởng Lưu tức giận nghiến răng ken két: “Cô định mua bao nhiêu đây?”

“Ngày mai với ngày kia người trong thôn sẽ giúp tôi sửa nhà, việc ăn uống không thể xuề xòa được, tất nhiên cũng không cần nhiều, nhưng ít ra cũng phải có độ trăm cân[1]. Mà có khi tôi mua luôn cả nửa con lợn cho tiện, nói không chừng người ta còn cho thêm bộ lòng ấy chứ.”

Đội trưởng Lưu im lặng suốt một hồi lâu chẳng nói năng được gì.

Trên đường đi tới lò mổ lợn, chúng tôi gặp đồng sự của Đội trưởng Lưu, anh ta vội vác theo bao tải hàng hóa đó tới chào hỏi, chẳng mấy chốc đã trở lại với hai bàn tay không. Anh chàng này thật biết lợi dụng tài nguyên miễn phí.

Có Đội trưởng Lưu dẫn đường, tôi đã mua được thịt lợn một cách suôn sẻ. Lần này tôi mua nguyên nửa con, tổng cộng là một trăm ba mươi cân, được chặt ra thành những phần hơn hai mươi cân một rồi bỏ vào hai chiếc bao tải. May mà Đội trưởng Lưu vốn khỏe mạnh, mỗi vai vác một bao, cắn răng đi ra cửa. Mới đi chưa bao xa, đã có một chiếc xe jeep màu xanh hướng về phía chúng tôi mà nhấn còi. Đội trưởng Lưu vội vàng bỏ đồ xuống, rảo bước đi về phía chiếc xe đó.

Chẳng bao lâu sau, trên xe có một người trẻ tuổi đi xuống, giúp chúng tôi khiêng thịt lợn vào trong thùng xe phía sau.

“Lên xe đi!” Đội trưởng Lưu mồ hôi mồ kê nhễ nhại vẫy tay gọi tôi.

Anh chàng này không gạt tôi, đúng là có thể kiếm được xe thật.

Chiếc xe chạy về phía trước một cách vững vàng, đến bên ngoài một căn nhà hai tầng thì dừng lại. Đội trưởng Lưu quay sang ra hiệu, tôi liền vội vã xuống xe.

Nhìn ngôi nhà này, tôi đoán ngay người bị bệnh ắt không phải là người bình thường. Thời buổi này muốn có một căn nhà trong thị trấn không khó, nhưng muốn có nhà hai tầng thì lại chẳng phải chuyện dễ dàng gì.

Vừa vào nhà, lập tức có một người phụ nữ trung niên bước ra đón chúng tôi, rồi nói với Đội trưởng Lưu: “Đào Đào, con về rồi à.” Thì ra đây chính là mẹ của Đội trưởng Lưu, còn tên đầy đủ của anh ta chắc là Lưu Đào Đào.

“Con mời được một bác sĩ tới xem bệnh thấp khớp cho ông nội.” Khuôn mặt Đội trưởng Lưu thoáng đỏ lên, nhìn sang phía tôi với vẻ hơi xấu hổ.

Cô Lưu liếc sang phía tôi với vẻ mặt đầy nghi hoặc, hiển nhiên là không cho rằng tôi có bản lĩnh lớn đến thế. Có điều cô vẫn không nói gì, cười nói Đội trưởng Lưu: “Vào nhà nhanh lên, ông nội con vừa rồi còn đang đánh cờ với chú Hàn đấy, con mau vào chào ông với chú một tiếng đi!”

Đội trưởng Lưu “vâng” một tiếng, rồi gọi tôi theo anh ta vào nhà.

Căn nhà được bài trí rất đơn giản và mộc mạc, sát bức tường phía bắc có kê mấy chiếc tủ lớn sơ sài, trông cũng khá cũ rồi, giữa phòng thì được đặt một chiếc sofa làm bằng gỗ, tấm đệm bên trên đã giặt nhiều đến nỗi bạc cả màu, có mấy chỗ từng bị rách phải vá lại. Một ông lão râu tóc bạc phơ đang ngồi trên sofa lên tiếng, giọng nói sang sảng, mắt trợn tròn, vừa nhìn là biết không phải người dễ tính.

“Về rồi à?” Ông lão liếc mắt nhìn qua phía Đội trưởng Lưu, lớn tiếng nói: “Lại mời được tay lang băng nào đến đây nữa hả, không phải tôi đã nói là không uống thuốc gì hết rồi sao?”

“Ông nội…” Đội trưởng Lưu kêu lên một tiếng bằng giọng van nài, nhưng ông lão lại không để ý tới anh ta, mà ngoảnh đầu đi, nói với người đàn ông trung niên bên cạnh mình: “Tiểu Hàn, đừng để ý đến nó, chúng ta tiếp tục nói chuyện của chúng ta thôi!”

Ông lão này thật đúng là…


[1] Đơn vị tính theo cân Trung Quốc, tương đương với 500 gam. Một lạng là một phần mười cân, tức 50 gam, một hoa bằng một phần mười lạng, tức 5 gam.

Thoáng qua 1.3

Đứng đợi ở cổng công ty được một lát thì nhìn thấy chiếc xe màu bạc của anh. Đột nhiên phát hiện, đầu óc mình đúng là có vấn đề, hẹn gặp người ta vào đúng lúc tan tầm thế này, lại ngay trước cổng công ty, khác nào đi dạo với gấu trúc trên phố. Chỉ mong không bị đồng nghiệp nhìn thấy, vừa chui vào xe cô vội giục anh: “Đi thôi!” Lần này, Giang thiếu mặc áo sơ mi trắng muốt, thấy cô có vẻ vội vã, anh không hiểu chuyện gì nhưng cũng vội vàng vào số xe phóng đi.

Trong xe, hai người chẳng ai nói gì, cô và anh vốn không quen biết nhau. Tử Mặc cúi đầu, mở túi xách lấy chiếc phong bì đưa cho anh.

Giang thiếu chỉ liếc qua, hỏi: “Cái gì vậy?”, thực ra anh đã biết cái gì trong đó.

Cô đỏ mặt, thầm nghĩ, thôi được, đành chịu mang tiếng tiểu nhân vậy: “Tiền của anh!”

Không đáp lại lời cô, anh lặng lẽ xoay vô lăng, rẽ sang đường khác.

Xe dừng lại trước một nhà hàng, hai người vừa bước vào cửa, một người có vẻ là chủ nhà hàng đi ra đón: “Giang thiếu, đã lâu không thấy đến, vẫn chỗ cũ chứ?”

Nhìn qua bức tường kính, từ độ cao tầng năm mươi mấy nhìn xuống, đương nhiên rõ ràng hơn nhiều so với phòng làm việc ở tầng mười mấy của công ty cô, biển đèn sáng rực, cả thành phố như không ngủ. Bộ đồ ăn màu trắng ngà, có những hoa văn hình con bướm sinh động như thật, mép có đường viền màu vàng cực kỳ sang trọng. Cô chỉ cảm thấy một sự quen thuộc đến khó hiểu, ngón tay không ngừng lần trên con bướm đó. Thực ra chúng quá khác nhau, những đồ gia dụng ở thành phố nhỏ của cô thường rất rẻ, huống hồ là chiếc cốc của mười mấy năm trước. Nhưng trong ký ức của cô, nó vẫn là đẹp nhất.

Từ sau hôm trả lại tiền cho Giang thiếu, dù Sính Đình gọi bao nhiêu cuộc điện thoại hẹn đi ăn, Tử Mặc đều từ chối, cô thực sự không muốn quá gần gũi với nhóm người đó, vì dù sao cô và họ là hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Sính Đình nói có vẻ bực bội: “Lúc nào cũng bận, làm việc thì cũng phải nghỉ ngơi chứ? Dù bận cũng nên thư giãn một chút, thưởng thức hương vị cuộc sống. Mình biết, ở đây cậu chỉ có một mình, nếu mình không gọi, chắc cậu lại ngồi lỳ ở nhà.”

Mặc dù Sính Đình mời rất nhiệt tình nhưng Tử Mặc đủ nhạy cảm để biết, người đời luôn coi trọng môn đăng hộ đối. Đó là truyền thống mấy nghìn năm tổ tiên truyền lại, nếu không là chân lý thì đã bị chôn vùi từ lâu, cô biết mình và họ tuyệt đối không cùng đẳng cấp.

Vì vậy, càng ngày cô càng né tránh họ, hơn nữa công việc cũng rất bận, chuyên phụ trách mảng nhập khẩu của công ty, công việc luôn ngập đầu. Tối đó lại phải làm thêm, tâm trạng vốn đã không tốt, vừa mới bắt tay vào việc thì Sính Đình gọi điện: “Tử Mặc… cậu phải đến cứu mình. Mình say rồi…” Sau đó, với giọng hơi líu lưỡi của người say, Sính Đình nói một địa chỉ, chỗ đó cô biết bởi từng đến vài lần.

Đẩy cửa bước vào, chỉ thấy một bàn toàn người say khướt. Nhìn thấy cô, Sính Đình lảo đảo bước đến: “Cậu đến rồi à? Lại đây giúp mình đối phó với họ.” Người đẹp thì trong mọi tình huống vẫn đẹp, ngay cả khi say. Với vẻ lảo đảo, ánh mắt mê loạn của người say, trông Sính Đình càng quyến rũ. Sính Đình kéo cô ngồi, vừa ngẩng đầu thì thấy Giang thiếu ngón tay thanh tú kẹp điếu thuốc, khóe miệng hơi nhếch lên, đáy mắt sâu hút như hồ nước mùa thu đang chăm chú nhìn cô.

Tửu lượng của Tử Mặc thật ra không tốt, nhưng đối với con gái phương Nam cũng có thể coi là tạm được. Hồi nhỏ, mỗi lần bố uống rượu thường bế cô đặt lên đùi, cô lấy đũa gõ mâm bát ầm ĩ. Mỗi lần nhắc tới chuyện này mẹ thường nói, từ nhỏ cô đã rất quấn bố, dù là con gái nhưng được bố cưng chiều như báu vật, trong khi thời đó, tư tưởng phong kiến còn rất nặng nề, nhưng bố lại luôn cưng chiều cô công chúa bé nhỏ, không hề có ý nghĩ phân biệt gái trai. Về sau, khi đi làm, có lúc phải đi tiếp khách với sếp, cô luôn tự chủ, khi thấy sắp say là kiên quyết không uống thêm một giọt rượu nào nữa.

Không biết có phải do lần đánh bài mấy hôm trước, đến cuối cùng mọi người đều “biết điều” để hai người lại với nhau. Giang thiếu chưa bao giờ thấy cô uống nhiều như vậy, mọi khi có ai mời chỉ cười cười lảng tránh, hoặc miễn cưỡng nhấp vài giọt. Hôm nay cô lại uống rất nhiều, đôi mắt đờ đẫn, thỉnh thoảng lại lóng lánh thứ ánh sáng đặc biệt, bước đi chệnh choạng như muốn ngã.

Trời đã sang thu, thời tiết mát mẻ, gió lùa qua cửa sổ xe làm rối tung mái tóc của cô. Cô và anh trước giờ hầu như không nói chuyện, anh không nói, cô càng không biết nói gì. Thực ra nếu anh nói, cô cũng sẽ đối phó vài câu, nhưng chắc chắn cô không bao giờ chủ động bắt chuyện.

Nửa dìu nửa bế đưa cô vào nhà. Phòng khách nhỏ xíu, phòng bếp cũng nhỏ, tất cả cộng lại không bằng phòng ngủ của anh. Nhưng có hề chi, chim sẻ tuy nhỏ nhưng vẫn đủ lục phủ ngũ tạng.

Anh vào bếp lấy cốc nước cho cô, lúc này mới phát hiện hình như cô đặc biệt thích bươm bướm. Hầu như mọi đồ dùng, từ cốc chén, bát đĩa trong nhà đều có hình con bướm. Quay lại phòng khách, thấy cô vẫn đang mơ màng, miệng lẩm bẩm: “Không uống thuốc, không uống thuốc, chỉ uống nước thôi. Mặc Mặc khát nước!” Thì ra cô đang mơ được trở về Giang Nam, vùng đất thơ mộng đẹp như tranh. Hồi nhỏ, mỗi khi bị ốm, bố mẹ thay nhau trực bên giường, dỗ dành cô uống thuốc. Lần đầu tiên nghe cô nũng nịu như vậy, lòng anh khẽ run, cảm giác thật kỳ lạ. Xưa nay thiên hạ đều khen người Giang Nam có giọng nói ngọt như mía lùi, nhưng anh lại chỉ nghe thấy Tử Mặc nói giọng Bắc Kinh chuẩn.

Anh đỡ cô dựa vào người mình, cảm thấy cơ thể đó mềm như bông, rồi nhẹ nhàng kề cốc nước vào miệng cô. Tử Mặc uống ừng ực một hơi hết sạch, hình như vẫn chưa thấy đã, lưỡi thèm thuồng liếm bờ môi bóng đỏ. Máu trong người anh như sục sôi, xông thẳng lên đầu làm anh choáng váng, nhưng cô vẫn không hay biết, hồn nhiên trở mình trong tay anh, muốn tìm tư thế thoải mái nhất. Vậy là hai cánh môi mềm đó từ từ lướt qua cổ anh…

Trong phút chốc, anh bỗng cảm thấy như trời long đất lở, không thể nào kìm được, anh cúi xuống ép môi mình vào đôi môi đó…

 

Tử Mặc biết anh đi từ lúc nào, nửa đêm về sáng cô đã bắt đầu tỉnh. Con người là thế, khi say thì hồ đồ, mượn rượu có thể làm tất cả, đến khi tỉnh lại trở nên nhút nhát. Cô đành giả bộ ngủ, không dám cử động, khi trời sáng anh mới ra về. Chỉ biết hình như anh đi ra cửa, sau đó lại trở vào, cũng không biết anh định làm gì, cô không có can đảm mở mắt. Một lát sau lại thấy tiếng bước chân đi ra, sau đó là tiếng đóng cửa, lần này anh đi thật.

Sau đó Giang thiếu vẫn không liên lạc với cô, Tử Mặc đương nhiên cũng không gọi, số điện thoại Sính Đình đưa lần trước, viết đại vào mảnh giấy nào đó, không biết đã kẹp vào đâu nữa. Cô chưa từng nghĩ hai người sẽ còn liên lạc với nhau.

Thực ra có gì đáng để liên lạc đâu? Chẳng qua chỉ là cuộc tình một đêm như vô số những cuộc tình khác trong thành phố phồn hoa này mỗi khi đêm xuống! Không phải tư tưởng của cô quá thoáng, đêm vừa rồi với anh thực ra cũng là lần đầu của cô. Chẳng qua hôm đó là ngày giỗ bố, mỗi năm vào ngày đó, Tử Mặc đều rất buồn, nhất là sau khi gọi điện cho mẹ, càng thấm thía nỗi cô đơn, chỉ nhớ nhà đến muốn khóc, muốn lập tức trở về thành phố nhỏ với mẹ, ăn vằn thắn mẹ làm, bánh chưng mẹ gói…

Khi uống rượu bỗng dưng chỉ muốn say, muốn mượn rượu để khỏa lấp nỗi trống vắng trong lòng. Khi Giang thiếu đưa về, cô vẫn còn một chút tỉnh táo, nhưng nỗi cô đơn như nước thấm vào lòng, muốn bám lấy một cây gỗ nổi giữa biển cả mù khơi, như dây tơ hồng bám vào thân cây to, mong có thêm chút sức mạnh. Công bằng mà nói, cô mới là người lợi dụng Giang thiếu. Người như anh, các kiều nữ quây mấy vòng không hết, Triệu Tử Mặc nhỏ nhoi này có là gì? Con người ta nếu sáng suốt, làm gì cũng nên tự lượng sức mình, cô rất biết điều đó.

Hai tháng sau, Sính Đình gọi điện: “Sao cậu biệt tăm thế? Chẳng thấy liên lạc gì. Mình vừa đi châu Âu một chuyến, không gọi cho cậu là cậu cũng quên luôn. Ngán gặp mình vậy sao?” Thế là hai người bắt đầu liên lạc trở lại.

Lần gặp lại, bên cạnh Giang thiếu đã có một mỹ nhân xứng danh quốc sắc thiên hương, anh chỉ ngước nhìn cô một cái, cũng không thèm nhếch mép cười xã giao. Tử Mặc đương nhiên cũng không đến chào. Một đám người cười nói, tán chuyện như chợ vỡ, đến lúc ra về mới phát hiện anh đã dắt tay quốc sắc thiên hương kia đi rồi, không biết đi vui vẻ ở đâu. Anh chàng đưa cô về còn nói đùa: “Gã đó sao lại vội vàng thế không biết? Cứ như vừa hết tuần ăn chay vậy!”

1981 4.2

 

Thị trấn bây giờ căn bản không so được với thời hiện đại, đường thì nhỏ, nhà cửa thì thấp, mà người cũng không nhiều. Tôi hỏi đường mất mấy lần, cuối cùng đã tới được cục Công an. Sau khi nghe nói mục đích của tôi khi đến đây, anh cảnh sát trực ban không kìm được, cười nói: “Vừa nhìn tôi đã biết ngay cô em là người thành phố, chứ người nông thôn mà nhận nuôi trẻ con thì còn chẳng cả biết đi đăng ký hộ khẩu, đừng nói gì đến việc làm thủ tục nhận nuôi.”

Tôi cũng cười phụ họa theo: “Dù có thế nào cũng cần làm theo chính sách, nếu không tôi cảm thấy không được vững dạ. Đồng chí giúp tôi xem cần những tài liệu gì, để tôi còn biết mà chuẩn bị.”

Anh cảnh sát đó vui vẻ nói: “Đâu có phiền phức như vậy, chỗ chúng tôi chỉ cần đăng ký một chút là xong. Đúng rồi, cô em có thư giới thiệu không nhỉ?”

Trong lòng tôi thầm căng thẳng, vội lấy thư giới thiệu ra đưa cho anh ta. Cái thư giới thiệu này tôi làm từ trước khi đến đây, ở chỗ người làm giấy tờ giả, bên trên có đóng một cái dấu đỏ tươi của cục Cảnh sát thành phố Bắc Kinh, nhưng không biết con dấu của năm 2010 liệu có giống với con dấu của năm 1981 hay không.

Anh cảnh sát này tuy nói nhiều, nhưng tính cách lại không xấu, làm việc cũng nhanh gọn, một lát sau đã làm xong thủ tục cho tôi. “Cộp…” Một con dấu đỏ tươi được đóng xuống, vậy là tôi đã chính thức trở thành người giám hộ của Tiểu Minh Viễn rồi.

Nhưng khi tôi chuẩn bị nói tạm biệt để rời đi, anh cảnh sát đó lại nhất quyết kéo tôi lại nói chuyện, lúc thì hỏi về Thiên An Môn, lúc lại hỏi đến nghi thức kéo cờ. Tôi thấy anh ta vừa giúp mình một chuyện lớn, nên cũng không tiện từ chối, đành miễn cưỡng ứng phó qua loa. Nào ngờ anh ta càng nói càng hăng, nhìn điệu bộ này, chỉ sợ là còn muốn kéo tôi lại thắp đèn nói chuyện thâu đêm mất.

“Làm gì đấy? Tiểu Trâu.” Có người đột nhiên kêu lên bên ngoài cửa. Giọng nói rất vang, khí thế dõng dạc, thoáng nghe đã biết ngay là người có địa vị.

Tôi ngoảnh đầu lại nhìn, chỉ thấy một anh chàng trẻ tuổi cao lớn mặc đồ cảnh sát đang đứng ngay giữa cửa, che đi mất phần lớn ánh sáng.

“Đội trưởng Lưu đến rồi. Cô em này là từ thủ đô đến đấy, kiến thức rộng lắm.” Anh cảnh sát cất tiếng chào anh chàng trẻ tuổi kia, anh chàng đó lạnh lùng liếc mắt nhìn tôi, rồi đi thẳng tới.

Anh cảnh sát vốn nói nhiều, chỉ đôi ba câu đã kể lại xong xuôi chuyện của tôi. Anh chàng trẻ tuổi kia nghe xong, sắc mặt dường như còn mang theo nét hoài nghi, đôi mắt hổ trừng lên nhìn tôi từ trên xuống dưới một lượt, sau đó đột nhiên nói: “Cô đưa thư giới thiệu đây tôi xem một chút nào!”

Trái tim tôi lập tức nảy lên đến tận cổ họng. Chắc anh chàng sẽ không coi tôi là phần tử phản cách mạng đấy chứ?

Tôi nở một nụ cười gượng gạo, sau lưng ướt đẫm mồ hôi, trở nên lạnh ngắt. Nhưng tôi lại không dám từ chối, đành chậm rãi đưa tay móc thư giới thiệu ra, trong lòng thầm cầu mong kỹ thuật của tay làm giấy tờ giả kia có thể vượt qua được cửa ải này, nếu không tôi sẽ gặp xui xẻo to mất.

Khi tôi vừa mới đưa thư giới thiệu cho anh ta, chợt có một ông lão chạy vào, sốt ruột kêu lớn: “Mau qua đây giúp một chút nào, lão Lý vừa ngã từ trên ghế xuống, hình như bị gãy chân rồi.”

Hai người kia vừa nghe vậy, lập tức quên cả việc kiểm tra giấy tờ của tôi, co cẳng chạy ra ngoài. Tôi đứng ngây ra đó một lúc, cuối cùng cũng tỉnh táo trở lại, vội cất hết giấy tờ đi, trong lòng vẫn còn thầm sợ hãi.

Khi tôi đang chuẩn bị rời đi, chợt thấy mấy người bọn họ đang khiêng một người đàn ông trung niên đi vào. Nhìn thấy tư thế khiêng người của họ, tôi thiếu chút nữa đã té xỉu, định bước tới chỉ dẫn một chút, nhưng đột nhiên nhớ ra chuyện giấy tờ của mình, thế là lại chùn chân.

Đang lúc do dự, chú cảnh sát trung niên bị thương kia đột nhiên kêu lên một tiếng đau đớn, khiến tôi sợ đến giật nảy mình, chẳng còn tâm trạng đâu mà để ý chuyện giấy tờ giả nữa, vội vàng chạy đến ngăn họ lại: “Dừng lại, dừng lại, mau buông người xuống đi! Mấy người còn làm bừa như vậy, vết thương của chú ấy sẽ càng lúc càng nặng hơn đấy.”

Đội trưởng Lưu đột nhiên ngoảnh đầu lại, đôi mắt hổ trợn trừng, trầm giọng hỏi: “Cô muốn làm gì?”

“Tôi còn có thể làm gì nữa chứ? Tôi là bác sĩ!” Tôi bực tức quát lớn: “Mau buông người xuống cho tôi! Anh, giúp tôi đi kiếm một tấm ván gỗ về đây, còn cả anh nữa, đi tìm ít vải đi, không có thì dây thừng cũng được…”

Ông lão và anh cảnh sát kia vừa nghe thấy lời của tôi, không do dự chút nào đã chạy ngay ra ngoài tìm kiếm, chỉ có Đội trưởng Lưu là vẫn đứng im ở đó không động đậy. Lúc này tôi cũng chẳng còn tâm trạng mà để ý đến anh ta, chỉ biết cúi đầu tỉ mỉ quan sát tình trạng của người bị thương.

“Gãy xương, có điều không nghiêm trọng lắm.” Không bị chảy máu, cũng không có vết thương ngoài da, sau khi chỉnh lại xương, đầu tiên cần dùng nẹp cố định lại, rồi đưa đến bệnh viện xử lý sơ qua một chút là xong.

Vừa nói, tay tôi vừa thao tác, chú cảnh sát trung niên kia kêu “a” một tiếng, tôi mau chóng dùng nẹp gỗ cố định chân của chú lại, sau đó dùng vải quấn chặt mấy lớp. Không đến mười phút, mọi việc đã được xử lý xong xuôi.

“Vậy… là xong rồi sao?” Anh cảnh sát kia tỏ ra nghi hoặc, cứ như là thấy người ta ngã còn chưa đủ đau.

Tôi tiện tay cầm miếng vải bên cạnh lên lau tay, cất tiếng dặn dò: “Đưa đến bệnh viện rồi hãy cho chú ấy uống thuốc giảm đau, nếu cần thì cũng nên bó thạch cao nữa. Bị thương đến gân cốt thì phải nghỉ ngơi một trăm ngày, sau khi tháo thạch cao cũng không nên vận động ngay. Đợi lát nữa tôi viết cho đơn thuốc, nghỉ ngơi điều dưỡng một thời gian là không có vấn đề gì đâu.”

Ông lão bên cạnh vừa nghe thấy thế liền vội vã đi lấy giấy bút, tôi không cần nghĩ ngợi gì lập tức viết ngay ra mấy đơn thuốc, rồi dặn dò bọn họ nên dùng vào lúc nào. Chú cảnh sát trung niên kia vội vàng cảm ơn, nét mặt tỏ ra vô cùng cảm kích.

Theo yêu cầu của tôi, ông lão kia tìm lấy một cái cáng, rồi cùng anh cảnh sát vừa nãy khiêng người bị thương đi. Anh chàng Đội trưởng Lưu đó thì ở lại, nhìn tôi bằng vẻ mặt phức tạp vô cùng, hỏi: “Cô học y sao? Lại còn là người Bắc Kinh nữa, tại sao không ở thành phố, đến chỗ bọn tôi đăng ký hộ khẩu làm gì?”

Thấy anh ta không nhắc đến chuyện kiểm tra giấy tờ nữa, tôi cũng cảm thấy yên tâm hơn, liền cười nói: “Một mình tôi dẫn theo thằng bé đến thành phố quả thực là không tiện. Nếu ra ngoài làm việc, trong nhà sẽ không có ai trông nó, còn nếu không làm gì, miệng ăn núi lở, lại càng không phải là cách. Ở nông thôn chi tiêu cũng ít, thời gian làm việc lại không cố định, cho dù trong nhà có chuyện gì thì cũng có thể nhờ hàng xóm xung quanh giúp đỡ. Dù sao tôi cũng chẳng có hoài bão gì to lớn, cứ tạm ở lại đây vài năm, đợi thằng bé lớn hơn một chút rồi sẽ trở lại thành phố.”

Đội trưởng Lưu lẳng lặng gật đầu, cũng chẳng biết là có tin hay không. Thấy anh ta một lúc lâu sau vẫn không nói gì, tôi liền thầm cảm thấy thấp thỏm bất an, nhưng lại chợt nghe anh ta hỏi: “Cô học y ở đâu vậy?”

“Nhà tôi…” Tôi vừa định nói là nhà mình có nghề y gia truyền, nhưng lại chợt nhớ đến cha của Kim Minh Viễn, không biết trước đây khi tới Hạ Nam Oa ông ta có nhắc gì đến chuyện gia đình không, nhỡ mà có gì sai khác, vậy là coi như lộ tẩy rồi, vì thế tôi liền nói chữa lại: “Tôi học Đông y ở đại học.”

“Cô còn là sinh viên đại học nữa sao?” Đội trưởng Lưu nheo mắt nhìn tôi, dường như không tin tưởng cho lắm.

Tôi không trả lời anh ta, mà trừng mắt lên giận dữ.

“Thế, bệnh thấp khớp lâu năm cô có chữa được không?” Anh ta dường như cũng đã nhận ra là tôi không vui, giọng nói liền thấp hơn một chút, mang theo vẻ rụt rè cẩn thận như muốn lấy lòng.

“Chữa thì tất nhiên là chữa được.” Tôi ngẩng cao đầu, nói: “Có điều bây giờ tôi phải về rồi, chút nữa còn có chuyện cần làm, để trễ thì không kịp giờ xe chạy mất.” Nói xong, tôi lườm anh ta một cái, rồi đi ra ngoài.

Thoáng qua 1.2

Vu Sính Đình bật cười: “Vớ vẩn, cậu mới thừa cân, mình là dáng người mẫu chuẩn.”

Nhưng cuối cùng Sính Đình vẫn không chịu để cô cõng, hai người dìu nhau lần từng bậc xuống núi. Đi mãi, Sính Đình bỗng trở nên cởi mở hơn: “Lúc nào cũng thấy cậu tất tả, bận gì vậy?”

Cô đáp: “Đi làm thêm.”

Sính Đình không hiểu: “Ngày nào cũng phải đi làm thêm sao?”

Trong lớp cũng có người đi làm thêm nhưng cùng lắm là làm gia sư, cả tuần chỉ một, hai buổi. Cô thản nhiên trả lời: “Ừ, biết làm thế nào!”

Sính Đình không hỏi gì nữa, nói sang chuyện khác.

Sau đó, khi trở về ký túc xá, Tử Mặc bỗng phát hiện thấy trong ba lô của mình có nhiều đồ ăn vặt rất ngon, sô cô la, thịt bò khô, bánh ngọt… toàn hàng nhập khẩu. Biết đó là của Sính Đình, nhưng Sính Đình bỏ vào ba lô lúc nào mà cô không biết, rõ ràng lúc chuẩn bị lên xe ra về, cô còn sắp xếp lại đồ trong ba lô. Bất giác mỉm cười, cô nàng Sính Đình hóa ra cũng rất đáng yêu. Từ đó về sau hai người dần dần trở nên thân thiết.

 

Tử Mặc không ngờ Sính Đình lại bao một phòng ăn VIP như vậy, còn sang trọng hơn nhiều so với căn phòng ông chủ cô tiếp khách. Có mấy người đàn ông đang vây quanh bàn đánh bài, những người khác đang mải hát với mấy cô gái rất đẹp. Họ không mặc com lê, đi giày da, trang phục rất thoải mái nhưng vẫn cực kỳ sang trọng. Vừa liếc mắt, Tử Mặc đã biết họ không phải tầng lớp cô có thể giao du, cả trước đây, bây giờ hay sau này cũng vậy. Cô sẽ không xâm nhập vào tầng lớp này, cũng chưa bao giờ có ý nghĩ muốn xâm nhập.

Không biết do Tử Mặc ăn vận giản dị khác hẳn họ, hay do cô được đại mỹ nhân Vu Sính Đình đích thân dẫn vào mà đám đàn ông đó đều đưa mắt liếc cô, sau đó lại ai làm việc nấy, người hát vẫn hát, người đánh bài vẫn đánh bài.

Vu Sính Đình kéo cô đến bên bàn rồi đặt chiếc di động đang cầm trong tay xuống. Tử Mặc liếc qua, đó là di động của hãng Apple thế hệ mới nhất, thậm chí còn chưa xuất hiện ở thị trường trong nước. Cô vốn chẳng biết gì về dòng điện thoại này, nhưng mấy năm lăn lộn trên thương trường nên cũng đã nhìn thấy.

Sính Đình nở nụ cười mê hồn, giới thiệu với mọi người: “Đây là Triệu Tử Mặc, bạn thời đại học của em.”

Cô mỉm cười gật đầu thay lời chào, mấy người kia cũng ngước mắt, khẽ gật đầu với cô. Anh cũng là một trong số đó, ngẩng đầu nhìn cô, sau đó cúi xuống ngay. Tử Mặc đã kịp nhìn, một đôi mắt đào hoa đen láy.

Sau lần gặp đó, cô tưởng Vu Sính Đình nói sau này sẽ thường xuyên liên lạc chỉ là câu xã giao, không ngờ ba ngày sau, đang làm việc thì nhận được điện thoại. Sính Đình hỏi ngay: “Cậu đang ở đâu? Mình đến đón!”

Cô vừa uống nước vừa trả lời: “Ở công ty, làm thêm.”

Sính Đình nói ngay, dường như không cho cô cơ hội từ chối: “Hai mươi phút nữa gặp nhau ở trước cổng chính công ty cậu.”

Tử Mặc còn chưa kịp nuốt ngụm nước thì đầu dây bên kia đã ngắt máy.

Cô nhìn điện thoại, trên màn hình hiển thị thời gian cuộc gọi là mười tám giây. Từ bao giờ tác phong của Sính Đình trở nên nhanh nhẹn như vậy? Nhưng ở thành phố Bắc Kinh lạ nước lạ cái này, gặp được một người bạn cũ là phấn khởi lắm rồi. Mặc dù khi còn ở trường đại học, hai người cũng chẳng phải quá thân thiết, nhưng có thêm một người bạn vẫn đỡ buồn hơn là thui thủi một mình.

 

Đây là lần thứ hai cô gặp anh. Lúc đầu cô cũng không mấy chú ý, chui luôn vào xe ngồi với Sính Đình. Khi xe dừng trước một biệt thự ở ngoại ô phía Đông mới phát hiện, chiếc Mercedes màu bạc của anh ở ngay phía sau. Vô tình liếc nhìn biển số A8, biển số của Bắc Kinh, đột nhiên khiến cô có cảm giác xa lạ khó hiểu đối với anh.

Hôm đó anh ăn mặc rất chỉnh tề, com lê thẳng nếp nhưng không nhìn cô lấy một lần. Tử Mặc cũng không đến chào anh. Trước nay, trong giao tiếp cô vốn ít khi chủ động, huống hồ biết rõ thân phận mình, việc gì phải dây dưa với loại người đó.

Tử Mặc dần quen với đám bạn của Sính Đình, một là do Sính Đình thường xuyên gọi điện rủ cô đi ăn cùng, cũng khó từ chối, hai là, ở thành phố này, mặc dù cũng đã quen, nhưng lại chỉ có một mình nên cũng thấy cô đơn, tính ra chỉ có Sính Đình là bạn cũ biết rõ về cô.

Biết bao lần làm thêm buổi tối, đứng bên bức tường kính nhìn ra xa, một biển đèn lấp lánh như sao sa, nhưng mình vẫn đi về lẻ bóng, cô cũng không khỏi chạnh lòng! Cầm trên tay chiếc cốc uống trà mua hồi mới vào công ty, chiếc cốc nền trắng có những vạch vàng rất trang nhã, giống chiếc cốc hồi nhỏ bố mẹ mua cho để đánh răng, bên trên có hình hai chú bướm màu sắc rực rỡ, vươn cánh như sắp bay. Hồi đó, cô thích chiếc cốc đến nỗi mỗi buổi sáng ngủ dậy, việc đầu tiên là chạy đi lấy cốc đánh răng. Về sau, chiếc cốc bị vỡ, không còn con bướm kia nữa, nhưng hình ảnh con bướm và màu cánh của nó vẫn đọng lại trong tâm trí cô.

Thực ra, khi đi cùng với đám bạn của Sính Đình cũng chỉ có mấy trò tiêu khiển như ăn uống, hát hò, chơi mạt chược… Người đông thường dễ vui đùa. Mọi người đều thoải mái, có chuyện buồn cười là tất cả cười thả phanh. Hôm đó anh uống hơi nhiều, cả bọn chia thành hai nhóm chơi mạt chược, không hiểu sao, anh lại chỉ vào Tử Mặc, khiến ánh mắt cả nhóm đổ dồn vào cô: “Để cô ấy thay tôi, nếu thua tính vào tôi, nếu thắng tính cho cô ấy.” Tử Mặc biết chơi mạt chược, có điều cảm thấy không tiện. Sính Đình thấy cô lúng túng, liền đẩy cô vào chỗ, cười nói: “Có Giang công tử hậu thuẫn, chơi đi, việc gì phải sợ?”

Gọi là biết, thực ra cô chơi không giỏi, chỉ là Tết hằng năm về nhà, thấy các cô bác hàng xóm rủ nhau chơi, cũng ra góp vui vậy thôi.

Mới chơi được một lát cô đã thua mấy ván, có người ngoái lại, nói: “Giang thiếu, hôm nay hình như tâm trạng cậu rất tốt, thấy chiến hữu nghèo nên chi tiền ủng hộ đây!” Anh cũng không bắt lời, chỉ nheo nheo mắt. Thực ra trình độ của họ ngang ngửa nhau, cô lớ ngớ chẳng biết đầu đuôi thế nào, thua liền mấy ván.

Lúc đang định ra một quân trắng, chợt một giọng nói uể oải vang lên bên cạnh: “Đừng ra quân đó!” Hơi thở ấm nóng phả vào tai cô, buồn buồn. Vừa ngẩng đầu, bắt gặp đôi mắt đen láy đang nhìn mình cười: “Ra quân này!” Đến lúc tàn cuộc, tính số điểm, cô còn được mấy vạn tệ, lúc đó mới biết số tiền họ chơi không phải nhỏ, tuyệt nhiên không phải chỉ đánh cho vui.

Thấy vậy ba người kia kêu ầm lên là bị lừa, tuy cay cú nhưng vẫn cười than thở: “Đã tưởng phen này vớ to, cuối cùng lại thành ra thua đậm. Thì ra lúc đầu gã tung hỏa mù khiến bọn này mờ mắt, sau đó mới ra tuyệt chiêu. Chúng ta bị xỏ mũi mà không biết!” Giang thiếu chỉ cười hồn nhiên, vơ tiền ấn vào tay cô. Tử Mặc nhất quyết không nhận, số tiền đó bằng mấy tháng lương của cô. Cuối cùng Sính Đình đi đến nói thầm vào tai cô: “Đừng buồn cười thế, cứ cầm đi.”

 

Tử Mặc sinh ra ở thành phố nhỏ Chiết Bắc của vùng Giang Nam phong cảnh hữu tình, với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đều đẹp như tranh. Nơi đây xưa nay là vựa lúa, vựa cá hiếm có của cả nước, nhưng để có tiền nuôi con ăn học, mẹ cô cũng phải ăn tiêu tằn tiện. Sau khi thi đỗ vào trường đại học danh tiếng nhất nhì cả nước, để giảm bớt gánh nặng cho mẹ, hằng ngày Tử Mặc cần mẫn đi làm thêm kiếm tiền. Nỗi cơ cực đó, đám bạn của Sính Đình, những cậu ấm cô chiêu khi vừa sinh ra miệng đã ngậm chìa khóa vàng làm sao có thể hiểu được?

Hôm sau, cô xin Sính Đình số điện thoại của Giang thiếu, hết giờ làm liền gọi cho anh. Giang thiếu ngớ ra, mãi mới hiểu: “À, là cô!” Giọng anh dửng dưng như đang nghe dự báo thời tiết.

“Chờ chút, anh có rỗi không?”

Phía đầu dây bên kia hơi ồn, cô nói thẳng rằng số tiền đó với anh thực ra cũng không phải quá lớn, nhưng đối với cô đây là con số không nhỏ, hằng ngày để trong túi xách cũng không yên tâm, ngộ nhỡ bị kẻ trộm lấy mất, chẳng phải cô bị đền oan sao…

1981 4.1

Buổi sáng tôi đã bị tiếng chim hót bên ngoài đánh thức.

Vừa mở mắt ra, tôi liền nhìn thấy ngay đôi mắt to, tròn xoe của chú nhóc trong lòng mình, nó đang lặng lẽ nhìn tôi, dáng vẻ vô cùng ngoan ngoãn. Sau một ngày ở cùng nhau, Tiểu Minh Viễn dường như đã thân thiết với tôi hơn một chút, trong mắt không còn vẻ đề phòng. Trẻ con rất nhạy cảm, chúng có thể cảm giác được ai thật lòng tốt với mình.

“Chào buổi sáng!” Tôi mỉm cười cất tiếng chào chú nhóc, lại khẽ vỗ lên bầu má bé bỏng của nó một cái. Trông chú nhóc rất đáng yêu, khuôn mặt thanh tú, đường nét rõ ràng, bây giờ đã có thể loáng thoáng nhìn ra dáng vẻ của một anh chàng điển trai trong tương lai, chỉ là hơi gầy gò một chút. Nhưng không sao cả, đợi sau khi sắp xếp tất cả xong xuôi, mỗi ngày đều được ăn cá ăn thịt, thằng bé không béo lên mới là lạ.

Khuôn mặt Tiểu Minh Viễn đỏ bừng lên, vội vàng loạng quạng bò dậy khỏi giường. Tôi sợ nó bị cảm lạnh, liền vớ lấy bộ quần áo ở đầu giường định mặc vào giúp nó, nhưng nó không chịu, mãi mấy giây sau mới lí nhí nói: “Cháu tự biết mặc.”

Đây là lần đầu tiên nó mở miệng nói chuyện, khiến tôi rất vui mừng, tất nhiên là cũng chiều theo ý nó, cười híp mắt lại đưa quần áo cho nó, còn cố ý nói: “Thật hay giả đấy, cháu còn nhỏ như vậy mà đã biết tự mặc quần áo rồi sao? Đừng có nói khoác đấy nhé!”

Tiểu Minh Viễn có chút sốt ruột, vội giành ngay lấy chiếc áo và trùm lên người. Có lẽ vì chưa mặc áo len trùm đầu bao giờ, chỉ nhớ hôm qua đã được tôi mặc cho thế nào, nên chú nhóc cứ thế trùm chiếc áo len lên đầu, nhưng lại không tìm được cổ áo đâu, sau khi kêu lên mấy tiếng liền ngã ngửa ra giường, khiến tôi không kìm được cười vang ha hả.

Cười xong tôi lại giúp nó mặc áo, còn dạy nó từng chút một, như khóa phải kéo thế nào, dây giày phải buộc ra sao nào. Tiểu Minh Viễn mở to đôi mắt tròn xoe, nghe với vẻ rất nghiêm túc.

 

Buổi sáng sau khi ăn uống qua loa, tôi liền nhờ chú Ba Trần dẫn tới nhà trưởng thôn để đăng ký hộ khẩu cho mình và Tiểu Minh Viễn. Dù sao cũng có chuyện cần nhờ vả người ta, nên tôi đã mua một gói đường đen và một chiếc bánh ngọt mang theo.

Lúc ra khỏi cửa, Tiểu Minh Viễn cứ một mực bám lấy áo tôi không chịu buông tay, đôi mắt long lanh sáng rực, bộ dạng như thể sắp bật khóc. Tôi suy nghĩ một chút liền hiểu ra, có thể thằng bé lo tôi đi rồi sẽ không về nữa, cuối cùng tôi quyết định dắt nó theo.

Sau khi biết ý của chúng tôi, Trưởng thôn Trần không do dự gì đã đồng ý ngay, nhưng những thứ mà tôi mang theo thì thế nào cũng không chịu nhận, còn lớn tiếng nói: “Sau này đều là người cùng thôn rồi, còn khách sáo như vậy làm gì chứ? Chỉ là đăng ký hộ khẩu thôi mà, mang theo những thứ này để mọi người trong thôn nhìn thấy, họ lại chẳng chỉ trích tôi hay sao?”

Tôi không kìm được đỏ bừng cả mặt, trong lòng thầm nghĩ người thời đại này đúng là thuần phác! Nếu đổi lại là thế kỷ hai mươi mốt của chúng ta, mang theo thứ đồ trị giá mấy trăm đồng tới người ta còn chê ít ấy chứ.

Có điều tôi cũng nhất quyết không chịu nhận lại mấy thứ ấy, mà nói thêm: “Chú đừng hiểu lầm mà, cháu cũng chỉ là có chút lòng thành để cảm ơn chú thôi. Sau này còn có nhiều chuyện cần nhờ đến chú, nếu ngay đến chút đồ này mà chú cũng không chịu nhận, cháu làm sao dám đến tìm chú nữa.”

Chú Ba ở bên cạnh cũng lên tiếng nói giúp: “Bác cứ nhận lấy đi, cũng đâu phải là thứ gì đáng tiền, không đến nỗi bị người ta chỉ trích đâu. Nếu bác không nhận, trong lòng cháu Chung đây cũng cảm thấy áy náy. Hơn nữa, vẫn còn việc cần nhờ đến bác đây này.” Nói xong, chú lại nhắc đến chuyện căn nhà cũ kia.

Trưởng thôn Trần hơi do dự một chút, nói: “Đó dù sao cũng là tài sản chung của thôn, lần trước nhà họ Ngưu muốn xin về cho con trai lấy vợ mà tôi không chịu, nếu bây giờ chia cho cháu Chung đây, e sẽ bị người khác nói ra nói vào.”

“Bà vợ nhà họ Ngưu đó rõ là tuồng không biết xấu hổ, bản thân vốn không thiếu nhà, vậy mà vẫn cứ muốn được chia thêm. Còn cháu Chung đây…”

Chú Ba định lớn tiếng nói tiếp, nhưng tôi đã vội vàng ngắt lời: “Trưởng thôn Trần nói cũng đúng lắm, không lý nào mà cháu vừa đến đây đã được nhận ngay nhà của thôn. Hay là thế này đi, chú hãy thương lượng với mọi người trong thôn một chút, rồi đưa ra cái giá đại khái, coi như bán cho cháu căn nhà đó. Chú xem như vậy có được không?”

“Vậy sao được chứ, cháu là một cô gái, đã thế lại còn phải nuôi trẻ con…” Trưởng thôn Trần có chút khó xử, có thể nhìn ra, ông cũng rất thông cảm với hoàn cảnh phải nuôi trẻ con của tôi.

“Dù thế nào thì cũng không thể để chú phải khó xử được.” Hơn nữa, sau này tôi còn phải ở lại Trần Gia Trang, nếu thật sự khiến người dân trong thôn bất mãn, những ngày tháng về sau tôi phải sống thế nào đây chứ?

Trưởng thôn Trần suy nghĩ một lát, cuối cùng mới nghiến răng nói: “Chuyện này tôi quyết định là được rồi, căn nhà đó bỏ không đã mấy năm nay, nếu không sửa sang lại một chút thì cũng không ở được. Thế này đi, cháu bỏ ra ba mươi đồng, rồi tôi gọi thêm mấy người trong thôn, bảo bọn họ dành ra vài ngày sửa sang lại căn nhà giúp cháu, còn về tiền mua nhà thì thôi bỏ qua đi.”

 

Việc hộ khẩu và nhà cửa đã được giải quyết xong xuôi, tôi tạm thời không phải lo gì nữa, trên đường về cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng, không ngừng trêu đùa Tiểu Minh Viễn cho nó nói chuyện. Chú Ba thì chỉ cầm cây tẩu thuốc mỉm cười nhìn bọn tôi, thỉnh thoảng lại nhả ra một hơi khói, lấy đó làm niềm vui.

Sau khi trở về, tôi lại nói chuyện này với thím Ba, vừa nghe nói phải bỏ ra những ba mươi đồng, thím Ba liền không kìm được than vãn: “Thím biết trong tay cháu chắc vẫn còn tiền, nhưng ngày tháng sau này còn dài, cháu lại là người có học, không làm công việc đồng áng được, coi như là không có nguồn thu, đến lúc đó miệng ăn núi lở, dù có nhiều tiền hơn nữa thì cũng đủ sống cho mấy năm đây? Sau này vẫn nên tiết kiệm một chút!”

Tôi vội vàng gật đầu vâng dạ, trịnh trọng cảm ơn thím đã nhắc nhở, sau đó liền nhắc tới chuyện sửa chữa căn nhà kia.

Nhân lúc hãy còn sớm, tôi muốn lên thị trấn một chuyến. Bởi vì lần này tôi chuẩn bị mang một số thứ từ trong nhẫn không gian ra, cho nên dù thế nào cũng không thể mang Tiểu Minh Viễn được. Sau khi dùng hết lý lẽ giải thích một hồi, thằng bé mới chịu buông tay ra, nhưng đôi mắt đã đỏ lựng, khuôn mặt tràn đầy vẻ quyến luyến.

Rời khỏi Trần Gia Trang, đi thêm hơn hai dặm thì có đường cái, tôi phải đợi mất hơn nửa giờ mới có một chiếc xe khách cũ nát đi qua. Sau đó là một cuộc hành trình gian nan đi lên thị trấn.