MƯỜI NĂM THƯƠNG NHỚ [Chương 8.1]

Chương 8

Người khác cũng là một người

anh bia tren face 10 nam

 

Tháng Mười hai đã phải dùng lò sưởi, phòng ốc rất ấm áp, hoàn toàn trái ngược với bên ngoài. A Hoành vừa bước vào nhà, lập tức cảm thấy một luồng khí nóng bốc lên.

Nét đặc sắc trong cách bài trí của nhà họ Ngôn là các bức ảnh trên tường, từng bức như tranh, rất sắc nét, nổi bật. Lạ là, những con người và cảnh vật trên hình tựa như được phú cho một linh hồn mới, vừa ấm áp vừa lạnh lùng.

“Của gã Ngôn Hi đấy.” Tư Hoán nhìn theo ánh mắt cô. “Ngôn Hi có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh, rảnh rỗi là lại đi lang thang vẽ tranh, chụp ảnh, trò nào cũng giỏi.”

“Bức ảnh ở góc tường kia chụp khi bọn anh đi chơi vào năm ngoái.” Tư Hoán chỉ vào bức ảnh ở góc tường rồi hỏi. “Em đoán xem chụp ở đâu?”

A Hoành nhìn chăm chú, càng nhìn càng thắc mắc. Rõ ràng là có nước và khói bốc lên nghi ngút, giống như đang ở trên mây, nhưng tự nhiên lại có mấy viên đá kết nâu, hình thù rất kì dị.

 

Cô liền lắc đầu.

Ngôn Hi chỉ vỗ vai Tư Hoán một cái rồi đi vào bếp. “Dưới suối nước nóng, cậu ấy quỳ ở đó rồi chụp.” Tư

Hoán nhìn tấm ảnh rồi cười. “Gã này luôn nghĩ ra được

những trò quỷ quái.”

A Hoành cũng cười, cô nhìn bức ảnh rồi tần ngần lại gần, sờ lên vân khói, đá kết nâu, lòng đầy ngưỡng mộ.

“Lần sau cho em đi với nhé?” Cô nhìn Tư Hoán, rụt rè đề nghị. Cha cô từng dạy rằng, đọc ngàn cuốn sách không bằng đi

ngàn dặm đường, khi còn trẻ hãy cố gắng làm người có chí.

Cô khát khao sự ấm áp nhưng cũng khát vọng sự phiêu bạt. Sự phiêu bạt này là ý tưởng táo bạo chứ không phải là sự nổi loạn tuổi dậy thì.

Cho dù là Vân Hoành hay Ôn Hoành thì cô vẫn luôn chín chắn, điềm đạm. Tuy nhiên, tự do là bẩm tính của thiếu niên, cô muốn thỉnh thoảng được đi đâu đó để thay đổi không khí.

Dĩ nhiên, nhìn ánh mắt của Tư Hoán đủ hiểu yêu cầu của cô đã làm khó cho anh.

“Ok.” Sau lưng có tiếng đáp ậm ờ.

A Hoành liền quay lại, thấy Ngôn Hi đang ở gần đó, khéo léo bê một chiếc bát sứ, đựng đầy sủi cảo, đôi mắt bị mái tóc lòa xòa che mất, còn môi rất đỏ và mềm mại.

Trăng sáng cố hương – Lại Nhĩ [Chương 3.2]

Cô bé hít một hơi thật sâu, lấy mu bàn tay lau mạnh nước mắt, rồi học theo bộ dạng của Hằng ca, hô to một tiếng, làm lại thế tấn.

Ngày đông giá buốt nhất vẫn luyện, ngày hè nóng nực nhất vẫn tập, suốt tám năm qua, bất kể nắng mưa, hai người họ mỗi tối đều đến nơi này luyện tập thương pháp hai canh giờ.

Dần dà, Khương Hằng bắt đầu quen cách cầm thương bằng tay trái, và có thể một tay vận nội công, sử dụng được những chiêu thức mạnh mẽ như Thanh Tùng Phúc Tuyết. Còn công phu cơ bản của Vân Hy cũng ngày càng tiến bộ, đã có thể thuộc lòng toàn bộ các chiêu thức của Tùy gia thương.

Mỗi chiêu, mỗi thức, mỗi đường thương đưa ra, Vân Hy thường luôn nhớ đến những ngày ở Kỳ Sơn, nhớ đến chuyện cô nấp trên cây nhìn lén vào Diễn Võ đường, nhớ đến chuyện Hằng ca trêu chọc, đe dọa cô rằng sẽ nói cho cha cô biết chuyện cô học lén võ công… Khi ấy, cô đã luôn tức giận, luôn oán trách lời tổ huấn, oán trách cha vì sao không dạy võ cho mình. Nhưng đến hôm nay, khi đã được học võ luyện thương như sở nguyện, thì cô lại hối hận…

“Chớ lơ đễnh!”

Khương Hằng kêu to một tiếng, đồng thời xoay cán thương chống mạnh xuống đất, khí lực xô mạnh khiến bụi đất bay lên mù mịt. Bị cát bụi làm mờ mắt, Vân Hy nghiêng người định tránh, động tác tay nhân đó hơi ngưng trễ một chút.

Tranh thủ chiêu thức bị lỡ ấy, Khương Hằng phi một cước, đá bay binh khí trong tay Vân Hy ra tít đằng xa. Đồng thời, y xoay người đâm trở lại, cán thương vừa vặn kề sát yết hầu Vân Hy.

Chiêu dừng, khí nghỉ. Khương Hằng thu lại cây thương, đeo nó lên sau lưng, rồi đưa cánh tay duy nhất kéo Vân Hy dậy.

Cầm bàn tay trái đã đầy vết chai của Khương Hằng, Vân Hy vừa lấy đà đứng dậy vừa nói: “Không tính, không tính, Hằng ca đánh lén, đúng là ăn gian.”

“Đánh lén gì chứ!” Khương Hằng không vui nheo mắt, hạ giọng trách. “Ở chốn võ trường, thắng làm vua, thua làm giặc, làm gì có chuyện đánh lén hay đánh thẳng. Nếu không, khi đối thủ muốn giết muội, muội còn định nhường nhịn ư? Hơn nữa, Triệu Hãn võ công cao cường, là cao thủ nhất đẳng trên giang hồ. Với công phu của hai chúng ta, dù lấy hai chọi một thì cũng chỉ có đường chết. Nếu muốn báo thù, chỉ còn một cách là đánh lén.”

Nghe thấy câu ấy, Vân Hy cúi mặt xuống, không nói gì nữa. Đúng như Hằng ca nói, bọn họ luyện võ, một là để kế thừa Tùy gia thương, nhưng điều quan trọng hơn cả là để báo thù rửa hận cho cha, cho Khương sư thúc, Khương thúc mẫu và tất cả ba mươi bảy mạng người lớn nhỏ của Tùy gia thương ở Kỳ Sơn.

Thấy Vân Hy không đáp lời, Khương Hằng cũng biết mình đã nói quá. Y đưa cánh tay duy nhất vỗ vỗ vai Vân Hy, nhỏ nhẹ nói sang chuyện khác: “Khi nãy muội mải suy nghĩ gì mà lơ đễnh thế? Luyện mãi luyện mãi, cuối cùng lại hỏng hết cả thương pháp, không còn chút kình lực nào cả.”

Ánh nến trong đèn lồng rung rinh, khiến bóng bông hoa lan vẽ trên giấy dán đèn in lên nền đất bên cạnh chỗ họ đứng cũng rung rinh lay động. Vân Hy cụp mắt nhìn ánh đèn như một ngôi sao ấy, rồi lại ngẩng đầu nhìn người thanh niên cao gầy bên cạnh mình, nhận thấy y từ lâu đã không còn vẻ trẻ con như xưa nữa, khuôn mặt cương nghị cũng không còn giống như trong ký ức của mình, bèn chậm rãi nói: “Hằng ca, muội nhớ đến Diễn Võ đường…”

“…” Lần này thì Khương Hằng không thể nói được gì.

Hai bàn tay nắm lấy nhau, năm ngón tay siết chặt. Thanh niên đứng thẳng người lên, lặng lẽ nhìn vầng trăng sáng trên ngọn cây. Sao thưa trăng sáng, ánh trăng tuôn tràn trên đồng rộng hoang vắng, tựa như rắc một lớp sương bạc lên mặt đất. Chợt nhìn, tựa như có tuyết rơi, chẳng khác nào buổi tối mưa tuyết ngập núi từ nhiều năm trước ấy.

“Bây giờ, muội không cần phải trốn trên cây lén nhìn vào Diễn Võ đường nữa.” Chỉ nghe Vân Hy nhỏ nhẹ nói tiếp. “Nhưng giờ đây chính muội cũng không hiểu, vì sao khi ấy lại muốn học võ như vậy? Muội hối hận lắm, nếu sớm biết thế này, thì muội thà cả đời này không chạm vào thương…”

Càng nói, tiếng Vân Hy càng nhỏ, cho thấy cô đang nhớ lại những năm tháng trên Kỳ Sơn, nhớ lại những chuyện vui đùa khi còn nhỏ, các sư huynh đệ nói nói cười cười. Khương Hằng bỗng nhiên kéo Vân Hy, lôi cô ngồi xuống đất, hai người vai kề vai, y như khi còn nhỏ ngồi sát bên nhau, y như khi ở trong ngõ tối đêm đông hàn, nhìn đèn hoa đăng trên phố vậy. Bờ vai họ truyền cho nhau hơi ấm, hai người cùng mất gia đình trong một ngày, đã phải dựa vào chút hơi ấm ấy để nâng đỡ cho nhau đi qua những ngày tháng gian nan nhất.

“Trên đời này không hề có thuốc chữa cho sự hối hận, chuyện đã đến nước này thì không thể quay đầu lại được.” Khương Hằng chầm chậm nói. “Cái gọi là giá như, nói gì đi nữa, cũng chỉ là chuyện phiếm mà thôi. Ta chưa từng hối hận gì cả, chỉ hận khi ấy tuổi nhỏ không đủ sức bảo vệ cha mẹ, hận Triệu Hãn và Tôn Bồi Nguyên, hận Thái Bình Ước chó chết ấy! Vân Hy, hiện giờ muội là hy vọng cuối cùng của Tùy gia thương, thế nên muội không được phép hối hận nữa, muội và ta cần luyện thương pháp cho thật tốt, như vậy thì mới không hổ thẹn với chưởng môn sư bá.”

“Dạ…” Vân Hy khẽ đáp một câu. Lặng lẽ hồi lâu, chợt cô quay nghiêng người, hai tay nắm lấy vai Khương Hằng, bóp mạnh, bảo: “Khi còn nhỏ, muội luôn cảm thấy đôi vai Hằng ca lúc nào cũng rất nặng. Bây giờ lớn rồi, cuối cùng muội cũng hiểu đôi vai này của huynh phải gánh trách nhiệm thế nào. Nhưng, Hằng ca, xin huynh chớ suốt ngày nghĩ đến chuyện luyện võ báo thù, thi thoảng huynh cũng nên buông gánh nặng ấy ra. Huynh còn có muội, còn có chú câm. Trách nhiệm ấy, muội sẽ cùng gánh vác với huynh! Hơn nữa chúng ta cũng phải hiếu kính với chú câm, không thể chỉ nghĩ đến chuyện báo thù được!”

MƯỜI NĂM THƯƠNG NHỚ [Chương 7.5]

Ông Tân liền bế cháu nội Tân Đạt Di sang gặp ông Ngôn để lí luận: “Ông già lẩm cẩm kia! Dựa vào đâu mà ông nói thằng Tân Đạt Di nhà tôi không xinh xắn bằng thằng Ngôn Hi nhà ông! Ông thử nhìn thằng cháu ông xem, miệng thì nhỏ, ăn mì còn khó, chẳng khác gì con gái, chẳng có tướng đàn ông tí nào cả! Thế mà ông còn mặt mũi nói cháu mình đẹp nhất, tôi đến ngượng thay cho ông!”

Ông Ngôn liền vỗ tay đánh đét một cái, cáu: “Có bà nội ông mới lẩm cẩm ấy! Thằng Tân Đạt Di nhà ông mà xinh xắn hả? Tóc tai thì chổng ngược lên, người nào không biết lại tưởng ông đang bế con khỉ! Khỉ thì thôi đành chấp nhận, lại còn câm nữa, là bạn bè chơi với nhau đã lâu nên tôi ngại chưa nói với ông đấy thôi!”

Hồi ấy, Tân Đạt Di đã gần lên ba rồi mà vẫn chưa biết nói. Còn Ngôn Hi hai tuổi đã chạy lăng xăng khắp nơi, nịnh “chú đẹp trai, cô xinh gái” để moi kẹo ăn rồi.

Đây là nỗi đau thầm kín của ông Tân, thế nên ngày ngày ông đều bế Tân Đạt Di chửi rủa ông cháu nhà họ Ngôn, Tân Đạt Di cũng chăm chú lắng nghe.

Cuối cùng, ba tuổi ba tháng ba ngày, cậu chàng mới cất lời vàng, câu nói đầu tiên mà cậu thốt ra chính là: “Ngôn Hi, cái thằng lẩm cẩm kia!”

Câu nói này đã khiến già trẻ gái trai trong khu nhà cười

đau bụng mấy tháng liền.

Lòng tự trọng của Ngôn Hi bị tổn thương, chạy khắp sân đuổi Tân Đạt Di, bắt được liền chửi: “Cha thằng Tân Đạt Di lẩm cẩm, mẹ thằng Tân Đạt Di lẩm cẩm, ông nội thằng Tân Đạt Di lẩm cẩm, bà nội thằng Tân Đạt Di, cả nhà thằng Tân Đạt Di lẩm cẩm!”

Và thế là trở thành bài vè kinh điển, réo đi réo lại quanh năm suốt tháng.

Ngôn Hi vốn là cậu bé coi trời bằng vung, từ nhỏ đã có tính thù dai. Người ta bắt nạt anh một phần, anh nhất định phải đòi lại mười phần, hôm nay thiếu một phần thì ngày mai phải bù lại cho bằng được.

Chính vì thế ông Ôn không quý Ngôn Hi, nhưng vì nể mặt bạn cũ nên vẫn coi như con cháu trong nhà. Điều ông lo lắng nhất là Tư Hoán thân Ngôn Hi quá sẽ sinh hư.

“Chỉ có cô là thương cháu.” Anh chàng này nói như đang diễn kịch trên sân khấu, còn quỳ một chân xuống, nắm lấy tay bà Uẩn Nghi, cười rất ranh ma rồi nói liến thoắng: “Cô ơi, cô tốt với cháu như thế chắc là yêu cháu lắm nhỉ? Ui da, cháu thấy xấu hổ quá. Hay là cô bỏ chú Ôn đi rồi lấy cháu nhé!”

“Lớn bằng ngần này rồi mà còn lấc cấc vậy, để chú Ôn nghe thấy thì mày lại ăn đòn!” Bà Uẩn Nghi cười vẻ thân thiết.

“Chú ấy có nhà đâu!” Ngôn Hi không thèm để tâm, mắt liếc xéo Tư Hoán. Tư Hoán khóc dở mếu dở. Ngôn Hi chỉ hơn anh nửa tuổi, hồi nhỏ đã bắt anh gọi là anh nhưng anh không chịu, không biết bị tên tiểu bá vương họ Ngôn kia đánh bao nhiêu lần.

Cuối cùng tiểu bá vương họ Ngôn tuyên bố thẳng thừng: “Cậu không gọi tôi là anh, tôi cũng chẳng cần! Đợi khi nào tôi lấy cô Uẩn Nghi, cậu sẽ phải gọi tôi là cha!”

Và thế là hắn đã vắt óc hơn chục năm trời để được làm cha dượng của Tư Hoán.

Tư Hoán mấp máy môi, mắt chữ A mồm chữ O nhìn Ngôn Hi. Tại sao tên lưu manh này lại ăn nói như thế chứ! Chẳng biết phép tắc gì cả!

“Thằng nhóc này, đừng có nói linh tinh!” Ông Ngôn Soái tức đến tái mặt, kéo cổ áo Ngôn Hi đến trước mặt A Hoành, nghiến răng ken két, nói: “Cháu nói với em Hoành đi, cháu tên là gì?”

Ông Ngôn Soái không biết rằng A Hoành và Ngôn Hi đã gặp nhau trước đó.

Hai chữ “Ngôn” và “Hi” đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng cô và không thể xóa mờ.

“Ngôn Hi.” Anh liếc A Hoành một cái.

“Ôn Hoành.” Cô cười, ánh mắt trong veo, nói năng rụt rè.

Cuối cùng cô cũng đã có thể gọi tên anh một cách danh chính ngôn thuận.

Sau nhiều lần gặp gỡ tình cờ, cuối cùng họ đã chính thức quen nhau.

Cả hai người đều không lưu tâm đến sự tương ngộ này.

Một người mười lăm, một người mười bảy, đều là độ tuổi trăng rằm.

Thế rồi, oan gia ngõ hẹp, một vở kịch hay ra đời.

Trăng sáng cố hương – Lại Nhĩ [Chương 3.1]

Chương 3

Xót xa

3d chuan

Tám năm sau.

Mặt trăng treo trên vòm lá, bóng cây đổ dài xuống đất, gió đêm phe phẩy, côn trùng rả rích. Giữa màn đêm tĩnh mịch mới đầu canh một, trong sân một ngôi nhà ở phía đông thành, chợt có những tiếng lạch cạch vang lên. Tiếng động ấy tựa như có người nào lấy những viên đá ném vào khung cửa sổ vậy. Thiếu nữ đang nằm trên giường, nghe tiếng động trở dậy, mau chóng lấy bộ y phục để dưới gối mặc nhanh lên người, đoạn búi gọn đầu tóc lại, nhanh nhẹn bước ra mở rộng cửa phòng.

Trong sân, hoa lê đang nở rộ. Gió nhẹ thổi, làm những cánh hoa trắng tinh lả tả rơi như những bông tuyết đang bay. Dưới những cánh hoa lê bay tan tác, một thanh niên cao gầy đang đứng. Ánh trăng mờ ảo soi lên vai y, chiếu lên cái lưng thẳng tắp, chỉ thấy y đang chắp tay sau lưng đứng đó, tay trái để ở sau lưng, còn cánh tay phải thì trống không, để mặc cho gió nhẹ thổi phất phơ. Lúc này, y đang đứng quay lưng lại phía cửa phòng thiếu nữ, ngẩng đầu nhìn vầng trăng trên ngọn cây và những cánh hoa đang bay như tuyết rơi, tựa hồ đang suy tưởng điều gì.

“Hằng ca!”

Thiếu nữ khẽ gọi một tiếng, kéo tâm tư đang sống lại với chuyện cũ từ nhiều năm trước của thanh niên ấy quay trở lại. Thanh niên quay người, đôi mắt sâu thẳm nhìn về phía cô, nhè nhẹ gật đầu.

Hai người nhìn nhau, không nói một lời. Thiếu nữ cầm chiếc đèn lồng treo trên giá gỗ trong sân lên, giẫm chân lấy đà nhảy một bước, cùng thanh niên tung mình vọt qua tường, hạ xuống đường phố bên ngoài, đi nhanh ra phía ngoại thành.

Hai người ấy chính là Khương Hằng và Tùy Vân Hy. Tám năm trước, hai người mới chỉ là một cậu thiếu niên và một cô bé con, trong một ngày đông giá vừa đói vừa rét, phải ngủ ngoài đường, cô bé Vân Hy đã bị phong hàn sốt cao không dứt. Khương Hằng lại là một kẻ tàn phế mất một tay, đừng nói đến việc làm thuê, ngay cả bế Vân Hy cũng khó. Trong tình cảnh khốn khổ, kêu trời trời chẳng thấu, kêu đất đất không nghe ấy, may nhờ có một người thợ làm đèn lồng trong thành đã ra tay cứu giúp họ. Ông chẳng những mua cơm ăn thuốc uống cho Vân Hy, còn cho hai đứa nhỏ ở lại trong nhà mình.

Đến khi Vân Hy khỏi bệnh, Khương Hằng muốn dẫn cô bé rời đi, nhưng người đàn ông câm đeo mặt nạ quỷ ấy đã ngăn lại. Ông lấy bút mực thay lời, viết lên giấy rằng: “Ta đã phải trải nỗi đau bị mất ái nữ, nay chịu cảnh cô đơn, chỉ có một mình, hình đơn bóng chiếc. Các cháu hãy thương ta, ở lại đây với ta đi.” Thấy chú câm “nói” thống thiết như vậy, lại đối xử với chúng rất tốt, hai đứa bé cuối cùng đã ở lại tòa thành nhỏ Phàn Dương này, chớp mắt tám năm đã trôi qua.

Mấy năm nay, chú câm coi Khương Hằng và Vân Hy như con đẻ, quan tâm chúng vô cùng. Chú câm tính tình hòa nhã, lại biết chữ, lúc nhàn nhã thường dạy cho hai đứa bé đọc thơ văn, lúc bận rộn lại cho hai đứa giúp mình làm đèn, bày hàng. Mỗi năm đến dịp Nguyên tiêu và Thất tịch, ba người bận rộn vô cùng. Vân Hy cũng học cách làm đèn, còn Khương Hằng thì một vai gánh hàng theo chú câm đi hết hang cùng ngõ hẻm, bán đèn lồng.

Đối với hai đứa trẻ, chú câm cái gì cũng tốt, chỉ có một điểm cực kỳ kiên quyết, đó là không cho bọn chúng luyện võ. Năm ấy, sau khi Vân Hy khỏi bệnh, Khương Hằng bèn dắt cô bé ra trước sân luyện tập mấy chiêu thức của Tùy gia thương, chú câm trông thấy, con người ông vốn xưa nay hòa nhã hiền lành, bỗng nhiên há miệng kêu to một tiếng “a”, rồi lớn tiếng quát hai đứa phải thôi. Dù có chiếc mặt nạ quỷ ngăn cách, nhưng hai đứa bé cũng có thể cảm nhận được sự tức giận của ông. Trước nay chưa từng thấy chú câm nổi nóng như vậy bao giờ, cô bé Vân Hy sợ hãi giật nảy mình, cây thương gỗ trong tay rơi xuống đất.

Sau sự việc ấy, Khương Hằng cũng từng hỏi chú câm vì sao lại phản ứng với việc tập võ như vậy. Chú câm khi ấy đang vẽ hình lên những chiếc đèn lồng, liền với lấy một tờ giấy, viết lên đó một câu: “Học võ, nếu chẳng hại người, thì cũng hại mình.”

Vết mực in đậm, thấm qua lưng tờ giấy.

Từ đó về sau, Khương Hằng và Vân Hy không luyện võ trong sân nhà nữa. Mỗi ngày sau khi đêm xuống, nhân khi chú câm đã ngủ say chúng mới lẩn khỏi nhà, đi ra chỗ vắng bóng người ngoài thành để luyện tập Tùy gia thương pháp.

“Tùy gia thương vốn đã có lời tổ huấn, chỉ truyền cho nam không truyền cho nữ…” Khi ấy, cậu thiếu niên mới mười ba tuổi nhìn cô bé con mới vừa tám tuổi, trầm giọng bảo. “Nhưng nay ta chỉ còn một tay, rất nhiều chiêu thức thương pháp không cách nào dùng được, cho dù có thể dùng thì đường lối cũng phải có biến đổi, khác xa so với trên thương phổ. Cha và chưởng môn sư bá đến chết vẫn ra sức bảo vệ Tùy gia thương, kháng cự không ký Thái Bình Ước, chính là không muốn Tùy gia thương bị thất truyền ở đây. Nay vì tình thế bức bách, Tùy gia thương nếu muốn tồn tại thì chỉ có thể truyền thụ cho muội. Tin rằng sư tổ dưới suối vàng nếu có biết, cũng sẽ lượng thứ. Vân Hy, bây giờ chỉ có muội mới có thể học được nguyên bản Tùy gia thương mà thôi. Muội không được trách ta nhé!”

Nói xong câu ấy, Khương Hằng hô lên một tiếng, đứng tấn, rồi hét vang, cánh tay duy nhất đưa mũi thương, làm động tác khởi đầu.

Vân Hy làm theo, nhưng bước chân còn chưa chuẩn, bị Khương Hằng quất một roi vào bắp chân, lập tức ngã lăn xuống đất.

Nhát roi ấy khiến Vân Hy tê buốt, hồi lâu vẫn không đứng dậy nổi. Thấy cô ngã xuống đất, Khương Hằng chẳng những không chạy lại đỡ, mà còn quát to: “Đứng lên! Làm lại!”

Từ sau biến cố ở Kỳ Sơn, hai người đang đêm bỏ trốn, những ngày này, Khương Hằng vẫn luôn bảo vệ Vân Hy, không muốn để cô bé phải chịu chút thương tổn nào. Vậy mà lúc này, cậu lại khác hẳn thường ngày, ra tay rất nặng, vô cùng nghiêm khắc. Sự thay đổi ấy khiến Vân Hy mắt ngân ngấn nước như chực khóc. Qua ánh mắt nhòe nhoẹt, cô bé thấy Hằng ca trước mặt mình hai mày nhíu chặt, lộ rõ vẻ nghiêm túc không giống mọi ngày.

Lúc ấy, trong ánh mắt bị nước mắt làm cho mờ mịt, Vân Hy bé nhỏ lờ mờ cảm thấy đằng sau việc học thương của cô có rất nhiều thứ không vui đè nặng lên hai vai của Hằng ca, khiến cho Hằng ca – người vốn thích trêu chọc cô, thích mắng cô là “nha đầu ngốc” – biến thành một Hằng ca nghiêm khắc với hai vai hơi chùng xuống, đang cầm thương đứng đó.

MƯỜI NĂM THƯƠNG NHỚ [Chương 7.4]

“Cháu chào ông Ngôn ạ.” Tiếng phổ thông của A Hoành vẫn lơ lớ như vậy, nhưng tư thế cúi người trông rất lễ phép.

“A Hoành, Ôn Hoành, hay! Tên rất hay!” Ông cụ cười, nhìn A Hoành mà càng thấy tội nghiệp. Chuyện năm xưa là do ông một tay sắp đặt, ông thực sự cảm thấy áy náy và thương cô bé này.

“Ngôn Soái, ông thử nói xem cái tên này hay ở đâu?” Ông Ôn cười tủm tỉm.

“Hay tức là hay thôi, tôi bảo hay là hay!” Ông Ngôn Soái liếc ông Ôn một cái, hàng lông mày rậm cau lại, có nét gì đó khá trẻ con.

“Chẳng có thiên địa vương pháp gì cả!” Ông Ôn cười giễu. “Cháu à, cháu đừng có khom lưng mãi như thế. Lão là kẻ

quê mùa, cả đời cầm súng chứ có cầm bút bao giờ đâu.” Ông

Ngôn trợn mắt, giọng cũng oanh oang.

“Chữ Hoành lấy trong cuốn Hành Phi Tử – Dương quyền, nằm trong câu “Hoành bất đồng vu khinh trọng”. Thế giới muôn màu, biết bao thăng trầm, thị thị phi phi, chọn nhẹ hay chọn nặng, tất cả đều phải dựa vào cái cân. Cháu gái nhà ta chính là người có sự cân bằng.” Ông Ôn nhìn đứa cháu gái mà ánh mắt lộ rõ vẻ rạng ngời, tinh anh.

Ông Ngôn Soái liền cười ha hả. “Ông Ôn già nên lẩn thẩn rồi, ai lại ví cháu gái mình với cái cân hả?”

Ông Ôn lắc đầu rồi thở dài.

Nhưng ánh mắt A Hoành lại sáng lên.

Hồi nhỏ, cha nuôi đặt tên cho cô là “Hằng”, có nghĩa là “vĩnh hằng”, đi với tên “Tại”, có nghĩa là “vĩnh hằng bên nhau”, mong hai chị em trường thọ, có cuộc sống đủ đầy. Có điều say này, khi vào tên hộ khẩu, công an hộ tịch lại viết sai chữ nên mới dùng chữ “Hoành” này, thực ra không phải như lời ông Ôn nói là mượn tên trong sách cổ.

Tuy nhiên, câu nói của ông gần như đã khiến mọi ấm ức chất chứa trong lòng cô tiêu tan, ánh mắt nhìn ông cũng rạng rỡ hẳn lên.

“Bao giờ ăn sủi cảo đấy ông, cháu đói rồi!” Trước đó Ngôn Hi chỉ nghe người lớn nói chuyện chứ không xen vào, đến lúc này mới tranh thủ nhắc nhở một câu. Mắt anh sáng long lanh nhìn ông nội, bộ dạng rất ngoan hiền, giọng nói cũng rất dễ thương.

“Thằng chết tiệt này! Cháu gào cái gì chứ!” Ông Ngôn Soái bực mình, mắng yêu.

Ngôn Hi liền nhanh nhẹn trốn ra sau lưng bà Uẩn Nghi và làm mặt hề, trông rất ngây thơ, vô tội.

A Hoành thấy anh hoàn toàn khác với vẻ cao ngạo, coi trời bằng vung ngày thường thì khúc khích cười.

“Cháu xem, em gái cũng cười cháu rồi kia kìa, thật chẳng hiểu chuyện gì cả!” Bà Uẩn Nghi cười, vỗ vỗ vào bàn tay thon dài của Ngôn Hi rồi quay sang nói với ông Ngôn Soái: “Bác Ngôn đừng giận, Tiểu Hi tính còn trẻ con, nghịch ngợm, bác nỡ lòng nào đánh nó?”

“Nể mặt Ôn Hoành, hôm nay ông tha cho mày đấy!” Ông Ngôn Soái trợn mắt nói.

“Lão Ngôn chỉ được cái nói cho sướng cái miệng thôi!” Ông Ôn cười trêu.

Trong mấy ông bạn già chơi với nhau, ông Ngôn nổi tiếng là người chiều cháu.

Từ nhỏ Ngôn Hi đã nghịch ngợm quấy phá, ông bực lắm, giơ tay lên định đánh, nhưng chưa kịp hạ tay xuống, cậu bé đã gào lên khóc ầm ĩ, vừa khóc vừa hát: “Bắp cải trắng, đất khô cằn, ba tuổi mồ côi cha, năm tuổi mồ côi mẹ…” Hàng xóm láng giềng nghe mà rớt nước mắt, chỉ thẳng vào ông Ngôn trách ông nhẫn tâm, nhà ông đã phải thắp không biết bao nhiêu tuần hương mới có được đứa cháu này, nếu có mệnh hệ nào thì ông còn mặt mũi đâu mà nhìn tổ tiên nữa!

Ông Ngôn nhìn thằng cháu ngân ngấn nước mắt, càng nhìn càng thấy không nỡ, rồi nói: “Chứ sao nữa, có nhà ai có cháu đẹp như cháu tôi không? Nhà ông Ôn, nhà ông Lục, nhà ông Tân cộng lại cũng không thể bằng!”

Ai ngờ, câu này lan ra ngoài, ông Tân không chịu. Các thủ trưởng thường mang hai ông ra so sánh, hai người vốn đã không ưa nhau, quân hàm càng lớn lại càng có nhiều cái để so sánh. Lấy vợ so sánh, đẻ con so sánh, có cháu lại càng phải so sánh.