Hoa sen xanh 14.1

Chương 14

Biện luận ở Ngũ Đài Sơn

“Học giả thường mờ nhạt trên chính quê hương mình;

Giống như châu báu bị thờ ơ giữa miền hải đảo.”

(Cách ngôn Sakya)

 

Theo di nguyện của đại sư Ban Trí Đạt thì năm hai mươi tuổi, Bát Tư Ba phải thọ giới Cụ túc để trở thành một nhà sư đúng nghĩa. Nếu không gặp biến cố, giờ này cậu ấy đã thọ giới ở Sakya. Sau khi quyết định đi theo Hốt Tất Liệt, Bát Tư Ba đã lưu lại trong doanh trại quân binh, sau đó rong ruổi cùng đoàn quân trên đất Vân Nam, vì thế việc thọ giới của cậu ấy đành phải lùi lại. Sau khi đến thảo nguyên Phủ Châu và ổn định cuộc sống, Bát Tư Ba tiếp tục trù bị kế hoạch thọ giới của mình. Đường về Sakya xa xôi vạn dặm, phải nửa năm mới đến nơi, lập tức khởi hành cũng không kịp nữa. Vậy nên, Bát Tư Ba dự định sẽ thọ giới tại một ngôi chùa nào đó trên đất Hán.

Khi Bát Tư Ba vẫn đang cân nhắc xem nên mời vị cao tăng nào chủ trì buổi lễ thọ giới thì một sự kiện bất ngờ đã xảy ra khiến cậu phải bỏ dở kế hoạch.

Trong lúc miệt mài với công việc xây dựng thành trì thì Hốt Tất Liệt đột ngột nhận được mệnh lệnh từ Mông Kha Hãn. Không phải lệnh dẫn quân đi đánh trận, cũng không phải chiếu chỉ tiếp tục tước bỏ quyền lực của ông mà là một nhiệm vụ kỳ quặc: chủ trì cuộc tranh biện giữa Phật giáo và Đạo giáo về thực hư của cuốn Kinh Lão Tử giáo hóa người Hồ[1].

Vậy căn nguyên của sự việc này ra sao?

Kinh Lão Tử giáo hóa người Hồ là cuốn sách mỏng, được lưu truyền từ đời Tấn. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên thì sau khi Lão Tử ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc, không ai biết ông đã đi đâu. Bởi vậy, cuốn sách này đã viết tiếp cuộc hành trình bí ẩn đó của Lão Tử. Sách viết rằng, Lão Tử đi về hướng tây, qua Tây vực, đến Thiên Trúc và truyền đạo cho Phật Thích Ca. Từ đó, cuốn sách khẳng định Phật giáo có nguồn gốc từ Đạo giáo và Đạo giáo uyên thâm hơn Phật giáo. Tuy nhiên, điều khiến các tín đồ Phật giáo phẫn nộ hơn cả là việc cuốn sách đã dựng lên câu chuyện: tinh trùng của Lão Tử được truyền vào miệng người mẹ của Phật Thích Ca, sau đó bà đã mang bầu Đức Phật. Câu chuyện bịa đặt này đã khiến các đệ tử nhà Phật không khỏi nổi giận, bất bình.

Khi đó, hai phái Phật giáo và Đạo giáo như nước với lửa, cuộc xung đột kịch liệt giữa hai phái tập trung vào việc tranh luận thực hư của cuốn sách này.

Vì đây là mệnh lệnh của Mông Kha Hãn nên Hốt Tất Liệt không dám chậm trễ. Phủ Châu cách thánh địa Phật giáo Ngũ Đài Sơn không xa nên Hốt Tất Liệt quyết định tổ chức cuộc tranh biện đặc biệt quan trọng này tại vùng núi nổi tiếng Ngũ Đài Sơn.

Năm 1254, mùa thu năm Bát Tư Ba hai mươi tuổi, cậu đã bỏ dở kế hoạch thọ giới Tỷ Khâu để theo Hốt Tất Liệt đến Ngũ Đài Sơn. Phật giáo và Đạo giáo đều cử những vị cao tăng, đạo sĩ đức cao vọng trọng nhất của mình tham dự cuộc tranh biện quan trọng này. Về phía Phật giáo, Mông Kha Hãn đã cử đại sư Namo, người Kashmir mà ngài tôn làm quốc sư đến tham dự. Hốt Tất Liệt, dĩ nhiên là cử Bát Tư Ba làm người đại diện. Ngoài ra còn có quốc sư Tây Phồn[2], quốc sư Hà Tây, các nhà sư đến từ Uyghur, quốc sư nước Đại Lý, đất Hán thì có đại diện là các vị trưởng lão các chùa Viên Phúc, Phụng Tiên ở Yên Kinh, tổng cộng ba trăm người. Phía Đạo giáo cũng không thua kém, họ cử ra hơn hai trăm người tham dự, dẫn đầu đoàn là Trương chân nhân. Chưa hết, Hốt Tất Liệt còn lệnh cho thuộc hạ của mình là các danh sĩ người Hán: Diêu Khu, Đậu Hán Khanh… giữ vai trò “chứng nghĩa”, tức là người làm chứng cho cuộc tranh biện.

Thư mời bay đi khắp nơi như bông tuyết. Hành cung[3] của Hốt Tất Liệt ở Ngũ Đài Sơn lúc nào cũng nườm nượp người ra vào làm nhiệm vụ liên lạc, đưa tin. Chỉ trong vòng một tháng ngắn ngủi, hơn năm trăm khách mời đến từ hai phía đã hội tụ đông đủ về Ngũ Đài Sơn, khiến thánh địa Phật giáo này trở nên náo nhiệt hơn bao giờ hết. Là người đại diện cho phía Phật giáo bên cạnh “chủ nhà” Hốt Tất Liệt, Bát Tư Ba bận rộn với công việc tiếp đón các vị đại sư, cả ngày không lúc nào ngơi nghỉ.

Tuy mỗi bên cử mấy trăm người đến tham dự nhưng không phải tất cả đều được đăng đàn. Kết quả cuối cùng sau khi bàn bạc và thống nhất, mỗi bên chỉ cử ra mười bảy người tham gia cuộc tranh biện, đó đều là những người giỏi nhất, uyên bác nhất. Về phía Phật giáo, Bát Tư Ba hai mươi tuổi là người trẻ nhất. Tuy đứng giữa các vị cao tăng râu tóc bạc phơ nhưng Bát Tư Ba tỏ ra rất mực điềm tĩnh, chững chạc, đối đáp trôi chảy, lưu loát. Trước khi diễn ra buổi tranh biện chính thức, các thành viên của đội tranh biện đã tập trung lại, cả ngày bàn bạc, phân tích, xem xét, đánh giá, họ miệt mài đến mức ăn ngủ cùng nhau. Sau vài ngày trao đổi, thảo luận, các nhà sư đều bày tỏ sự nể phục tư duy sắc bén và tầm kiến thức sâu rộng,
uyên bác của Bát Tư Ba. Ngay cả vị quốc sư Namo lúc đầu tỏ ra hết sức kiêu ngạo cũng có cái nhìn khác đối với Bát
Tư Ba.

Một ngày trước khi diễn ra cuộc tranh biện, lễ đài đã được bố trí xong xuôi tại hành cung của Hốt Tất Liệt. Vẻ mặt của những người tham gia tranh biện đều căng như dây đàn, không khí căng thẳng, hồi hộp và lo lắng bao trùm Ngũ Đài Sơn.

Ngay cả một kẻ chẳng liên quan gì như tôi cũng toát mồ hôi, hơi thở gấp gáp lạ thường.

Trong phòng mình, Bát Tư Ba cho tôi uống sữa bò, rút khăn tay lau miệng cho tôi, mỉm cười nhìn tôi trìu mến:

- Lam Kha, chúng ta đi leo núi nào!

Tôi uống no căng bụng, nghe thấy vậy, giật mình, nấc lên từng hồi:

- Cậu… cậu… Ngày mai diễn ra cuộc tranh biện chính thức rồi. Người ta… người ta ai nấy đều gấp rút chuẩn bị, sao cậu vẫn còn tâm trạng thảnh thơi để leo núi?

Thấy tôi vừa nấc vừa nói, cậu ấy không kìm được bật cười, vuốt nhẹ sống lưng tôi.

- Chính vì ngày mai ta tham gia cuộc tranh biện nên hôm nay càng phải ra ngoài đi dạo cho tinh thần thoải mái.

Vẻ mặt bình thản, vô ưu của cậu ấy khiến người ta có cảm giác cuộc chiến sinh tử diễn ra ngày mai dường như không hề tồn tại. Giọng nói trầm ấm vang lên:

- Đạo tràng ở Ngũ Đài Sơn là nơi năm xưa Bồ Tát Văn Thù hiển linh thuyết pháp. Từ thời Bắc Ngụy, người ta đã dựng chùa ở đây để thờ cúng. Đến thời nhà Đường, thánh địa Phật giáo này phát triển rất rực rỡ. Phái Sakya tôn thờ Bồ Tát Văn Thù, bởi vậy ngay khi đặt chân đến đây, ta đã có ý định thăm thú, chiêm bái và làm lễ nhưng bận rộn nên chưa thực hiện được. Hôm nay, ta không muốn bỏ lỡ cơ hội này.


[1] Lão Tử: nhà triết học nổi tiếng thời xưa ở Trung Quốc. Ông là người khai sáng ra Đạo giáo, một môn học về vũ trụ, thiên nhiên, vật chất. Người Hồ: theo nghĩa hẹp dùng để chỉ các dân tộc bên ngoài Trung Quốc, thuộc vùng Trung và Tây Á. Trong trường hợp này, “người Hồ” dùng để chỉ người Ấn Độ (Thiên Trúc). Sách Kinh Lão Tử giáo hóa người Hồ, nguyên tác là Lão Tử hóa Hồ kinh là tác phẩm của Đạo giáo Trung Quốc nhằm tự đề cao tôn giáo của mình, cho rằng sau khi Lão Tử truyền lại bộ Đạo đức kinh cho viên quan Doãn Hỉ trấn giữ Hàm Cốc Quan thì ngài đã cưỡi trâu đi về hướng tây để hóa độ, giáo hóa người Hồ (tức người Ấn Độ) và đã truyền đạo cho Phật Thích Ca và hai mươi tám thiền tổ Ấn Độ. Cuốn sách này từ lâu đã bị xem là ngụy thư (viết về những điều không có thật) và bị đốt bỏ từ đời Đường, Trung Quốc. (DG)

 

[2] Tây Phồn: tên gọi chung chỉ vùng Tây vực và khu vực biên giới phía tây của Trung Quốc vào thời cổ đại. (DG)

 

[3] Hành cung là nơi ở tạm thời của vua chúa thời xưa khi đi công cán ở địa phương. (DG)

 

Ký ức độc quyền 3.6

6

 

Thầy tổ sư gia kia nghe thấy tiếng động, nghiêng đầu qua nhìn hai chúng tôi. Lúc này, cho dù tôi có lập tức kéo Bành Vũ chạy trốn thì cũng không kịp nữa.

Bành Vũ tự nhiên đi tới đó, khom người cúi đầu chào: “Chào thầy tổ sư gia, em là học sinh của cô giáo Tiết.”

Mộ Thừa Hòa nghe Bành Vũ gọi mình như vậy, đầu tiên có chút nghi hoặc, sau khi nghe lời giải thích phía sau, hai môi liền mím lại ra vẻ đã hiểu. Tuy không cười thành tiếng nhưng tôi dám cá, chắc chắn là trong lòng lão vui lắm đây.

Tình thế ép buộc, tôi đành bước tới chào lão và giải thích: “Em dạy thêm ở ngoài, Bành Vũ là học sinh học Anh văn của em.”

Lão hỏi: “Em đang làm thêm à?”

“Dạ! Chỉ có một người thôi. Bành Vũ lên cấp ba rồi, cậu ấy muốn đến tham quan trường chúng ta.”

Lão đổi tay cầm sách sang tay kia: “Cũng trưa rồi, hai em ăn cơm chưa?”

Bành Vũ lập tức thành thật khai báo: “Dạ chưa!”

“Vừa đúng lúc, tôi mời hai em ăn cơm.” Tổ sư gia mở lòng thiện tâm nói.

Tôi nghĩ ngợi, chẳng lẽ cách xưng hô của Bành Vũ khiến hắn vui đến không chịu được nên quyết định nén nỗi đau cắt thịt đãi khách sao?

Nhưng tôi là một người có tín ngưỡng vô cùng thành khẩn đối với thức ăn. Chỉ cần có đồ ăn ngon, cho dù bắt tôi giả danh gặp bạn trên mạng hay ăn với một người chỉ mới hai mươi mấy tuổi đã làm tổ sư gia, tôi cũng chịu đựng được.

Ba chúng tôi cùng đi ra cổng trường Đại học A, vào một quán ăn Trung Quốc. Tính thế nào thì ăn xong cũng sẽ thiếu lão một bữa thôi, chi bằng chém mạnh tay một chút.

Lúc cầm đũa lên, tôi chú ý thấy Mộ Thừa Hòa dùng tay trái.

Không chỉ có tôi biết, cả Bành Vũ cũng phát hiện ra.

Bành Vũ hỏi: “Thưa thầy, thầy thuận tay trái ạ?”

Mộ Thừa Hòa cười: “Thói quen cá nhân.”

Nói thế làm tôi nhớ ra một chuyện. Đêm đó, tôi nhìn thấy lão làm việc trên máy tính, lâu nay cứ thấy ngồ ngộ, hóa ra là lúc đó lão viết bằng tay trái.

Nhưng ngày thường bất luận là viết trên bảng, hay là ký giấy cho chúng tôi, lão đều dùng tay phải.

Việc này thì tôi cũng hiểu được, theo truyền thống, người Trung Quốc thường không chấp nhận kẻ thuận tay trái, cho nên dùng tay phải sẽ tránh khỏi ánh mắt hiếu kỳ của người khác.

Nhưng lão có thể viết chữ bằng cả hai tay, thật là thần kỳ!

Bành Vũ nói: “Em cảm thấy những người thuận tay trái cực kỳ thông minh, chắc thầy cũng rất thông minh nhỉ?”

Mộ Thừa Hòa cười: “Người thuận tay trái không giỏi giang như người ta nghĩ đâu.”

Tôi đả kích Bành Vũ: “Thôi đi, không thì bắt đầu từ hôm nay em tập viết tay trái đi, xem có thể thành thiên tài không!”

Bành Vũ không cam tâm: “Vốn dĩ là vậy mà, nghe nói Beethoven, Newton, Einstein, cả Bill Gates nữa, họ đều thuận tay trái.”

Tôi nói: “Vậy ngoài những nhân vật em kể ra, trăm trăm ngàn ngàn những vĩ nhân khác thì sao? Chẳng phải đều thuận tay phải sao? Do đó, xét về tổng thể, vẫn là thuận tay phải thông minh hơn.”

Bành Vũ cãi: “Cô Tiết nói vô lý quá!”

Tôi nói: “Cô chỉ nói theo lý lẽ!”

Tóm lại, tôi không chịu thừa nhận người thuận tay trái đang có mặt ở đây tài giỏi hơn chúng tôi đâu. Ai kia chắc chắn là đồ thoái hóa, chứ tuyệt đối không phải là tiến hóa.

Tôi và Bành Vũ tranh luận căng thẳng trên bàn ăn, chính bản thân tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên, tôi đang cãi nhau với một đứa nhỏ tuổi hơn, thậm chí là một học sinh gọi tôi bằng cô giáo.

Lúc này, tổ sư gia điềm đạm đứng ra chủ trì công bằng.

Mộ Thừa Hòa nói: “Thật ra, tôi là người nửa thuận tay trái.”

“Nửa thuận?” Bành Vũ hồ nghi.

“Có lúc tôi cũng dùng tay phải.”

“Tại sao?”

“Tôi không phải là người lúc nào cũng dùng tay trái. Quan niệm của người phương Đông, trong đó có người Trung Quốc và người ngoại quốc có những điểm không giống nhau, có thể nói lúc tôi còn nhỏ, quan điểm của phụ huynh lúc ấy khác với quan điểm của phụ huynh bây giờ.”

“Khác như thế nào?” Bành Vũ hỏi rất nghiêm túc.

“Có lẽ em sẽ không có cảm giác này vì em sinh ra ở thời đại sau, nhưng Tiết Đồng có thể sẽ đồng cảm hơn.” Mộ Thừa Hòa nhìn tôi một cái, nói tiếp: “Khi tôi còn nhỏ, người lớn trong gia đình hễ phát hiện con mình dùng tay trái đều bắt chỉnh lại, cho dù ở nhà không chỉnh được, đến trường giáo viên cũng sẽ bắt dùng tay phải.”

“Tại sao phải kỳ thị như vậy?” Bành Vũ không hiểu.

“Việc đó cũng giống như con người cho rằng màu trắng là tượng trưng cho thuần khiết, màu đen là tà ác, không có tại sao hết.” Tôi nói.

Mộ Thừa Hòa gật đầu: “Đại khái là vì người Trung Quốc không thích điều này, do đó những từ có liên quan đến bên trái đều trở thành từ mang nghĩa không tốt. Tôi cũng bị chỉnh lại, nhưng vì tôi cứng đầu, cảm thấy dùng tay trái thoải mái hơn nên buổi sáng ở trước mặt người lớn tôi dùng tay phải, buổi tối khi làm bài thì dùng tay trái.”

“Nếu bị phát hiện thì có bị đánh không?” Bành Vũ tò mò.

“Không để họ phát hiện ra là được rồi, lén mà.” Mộ Thừa Hòa nháy mắt với Bành Vũ. “Hơn nữa, người lớn thường chỉ quan tâm em viết chữ bằng tay nào thôi, ăn cơm, đánh bóng, vắt khăn họ không để tâm. Tôi vắt khăn cũng vắt ngược đấy, nên lúc trước vắt mãi không khô, chơi cầu lông thì có lợi thế hơn, lúc cần đánh trái tay, tôi chuyển qua tay phải là được. Khi học tiểu học, vì dùng tay trái nên lúc viết chữ tôi đặt vở trên bàn viết ngược, ngoài tôi ra, không ai hiểu được, còn có thể dùng làm mật mã nữa.”

Bành Vũ cười lớn: “Thú vị thật!”

Thật ra, mặc dù tôi không muốn thừa nhận, nhưng khi nghe Mộ Thừa Hòa kể chuyện lúc nhỏ, tôi cũng cảm thấy say mê, hứng thú nên đã chăm chú lắng nghe.

“Nhưng cũng có lúc gặp phiền phức, rất nhiều dụng cụ đều thiết kế dành cho người thuận tay phải, hoàn toàn không suy nghĩ đến yêu cầu của người thuận tay trái. Ví dụ tôi ghét nhất là dùng kéo, vì nếu không dùng tay phải thì không thể cắt được. Hơn nữa khi dùng máy vi tính công cộng, không thể dùng quen con chuột của người khác. Tóm lại, tay trái và tay phải sẽ có cuộc tranh đấu cả đời.”

“Phải đó!” Tôi quay qua nhìn Bành Vũ, đắc ý nói: “Cho nên vẫn là thuận tay phải tốt hơn.”

Mộ Thừa Hòa lườm tôi một cái, khóe môi nhếch lên nhưng không nói gì.

Tôi quay mặt nhìn ra ngoài qua tấm kính trong suốt, đúng lúc nhìn thấy bên ngoài tòa nhà chuyên bán máy vi tính ở bên kia đường có treo bảng quảng cáo rất to, bên trái là một nữ thần gợi cảm mặc váy màu đỏ, tay cầm laptop màu đỏ, bên cạnh in hai dòng chữ, dòng thứ nhất: “Siêu mỏng siêu nhẹ, gợi cảm quyến rũ”, dòng thứ hai: “Giá cả tuyệt vời: 6888”.

Mẫu quảng cáo bên phải là hình máy vi tính mang nhãn hiệu của một công ty nổi tiếng trong nước, trên đó có hình máy tính để bàn màu đen, viết một dòng đơn giản “Mừng Giáng sinh, giá ưu đãi bất ngờ dành cho sinh viên: 3999”.

Bành Vũ vẫn không chịu thua, nói: “Nhưng mà em nghe nói người thuận tay trái rất dễ thành thiên tài, đặc biệt là năng lực về tư duy trừu tượng và số học thường vượt trội hơn người khác.”

Tôi cười khì: “Thôi được rồi, cứ cho là tính giỏi đi, chẳng lẽ có thể nhanh hơn máy tính được sao?”

Bành Vũ phùng má nói: “Chưa chắc đâu đấy!”

Tôi chỉ tay ra ngoài, hướng về phía hai mẫu quảng cáo, tận tình khuyên bảo: “Sao lại không chắc, chẳng lẽ 6888 đem nhân 3999 có thể đọc ra đáp án ngay sao?”

Trong lúc hai chúng tôi đang tranh chấp thao thao bất tuyệt thì nghe thấy Mộ Thừa Hòa ngồi ở đối diện bình tĩnh nói: “27545112.” Gần như không cần suy nghĩ.

“Hả?” Tôi và Bành Vũ cùng ngẩn người ra.

“Tôi nói đáp án là 27545112.” Lão nhìn chúng tôi đang mắt tròn mắt dẹt, lặp lại một lần nữa, khẩu khí bình tĩnh và điềm đạm vô cùng.

st��’s�Uqp�onguage:EN-US’>Nhưng giờ ở trước mặt nó, tôi là một cô giáo, thế nào cũng phải giả vờ sâu sắc một chút, tôi bèn nói: “Đó là vì mọi người đều siêng năng học tập, không bỏ tâm trí vào việc trưng diện và chăm chút ngoại hình.”

 

Đúng, tư thế của giáo viên phải được thể hiện.

“Ồ!” Nó nói.

Vừa đi được vài bước, nó lại nói: “Nhưng mà cũng có ngoại lệ đó, cô xem kìa, anh ở phía trước đẹp trai quá!”

Nghe nó khen, ít nhiều tôi cũng cảm thấy lấy lại được chút sĩ diện cho Đại học A, bèn hứng khởi nhìn qua hướng nó chỉ, đồng thời cũng muốn xem mặt người bạn học giành lại vinh quang cho trường.

Nhưng nét mặt của tôi bị đông cứng.

Người đó chẳng phải là Mộ Thừa Hòa sao?

Lão mặc áo khoác màu đen, trong tay là vài quyển sách, đang từ thư viện bước ra, đi trên con đường đá đối diện.

“Anh ấy chắc chắn cũng là thạc sĩ hay tiến sĩ nhỉ?” Bành Vũ hỏi.

“Không phải, đó là thầy giáo.”

“Thầy giáo?” Bành Vũ mở to mắt. “Thầy giáo của tiến sĩ, tức là cao hơn tiến sĩ rồi?”

“… Không tính như em đâu.” Tôi nói. “Đó chỉ là một giảng viên dạy thay thôi.”

“Sao cô biết đó là giảng viên dạy thay chứ?” Bành Vũ không tin, tiếp tục hỏi.

“Vì người đó đang dạy thay cho thầy của cô!” Tôi giải thích bằng giọng giận dữ.

“Ồ…” Nó gật đầu.

Tôi tưởng nó đã bị ngữ khí mạnh mẽ của tôi thuyết phục rồi. Ngờ đâu, hai giây sau, Bành Vũ dùng ánh mắt sáng bừng hơn nữa để nhìn Mộ Thừa Hòa, nói một câu đủ để khiến tôi thổ huyết: “Thầy giáo của cô Tiết ư? Vậy tức là tổ sư gia của em rồi. Thật là vĩ đại ư!”


[1] Xúc cốt công: một môn võ trong bộ Cửu Dương Thần Công, tự co rút xương lại cho thân hình bé đi.

 

[2] Chữ chảy nước mũi 流涕 /liu ti/ đọc hơi giống với chữ 流体 /liu ti/, chỉ khác ở âm đọc.

 

Hoa sen xanh 13.3

Hàng lông mày cong cong như mảnh trăng lưỡi liềm của cô ấy chau lại, ánh mắt lấp lánh, cô ấy hỏi khẽ:

- Cô chắc cũng phải ba trăm tuổi rồi nhỉ?

Tôi thật thà gật đầu.

Cô ấy xoay tôi sang trái rồi sang phải, lắc lư một hồi khiến tôi chóng cả mặt, rồi lại cào cào bộ lông của tôi ra quan sát kỹ lưỡng khiến tôi thấy nhói buốt. Sau một hồi kiểm tra soi xét, cô ấy lắc đầu:

- Sao lại thế nhỉ? Cô là hồ ly xanh kia mà, loài hồ ly kết tinh linh khí của trời đất. Hơn nữa, cô đi theo Bát Tư Ba chừng ấy năm, chắc hẳn đã học lỏm được không ít đạo pháp, lẽ ra cô phải biến hình được từ lâu rồi chứ? Vì sao ba trăm tuổi rồi mà vẫn giữ hình hài của một tiểu hồ ly?

Lòng dạ rối bời, tôi gãi gãi đầu, chừng như sắp khóc:

- Tôi… tôi cũng không biết nữa, có ai chỉ dạy tôi đâu…

Ngón trỏ trái của cô ấy chạm vào vết sẹo hình hoa sen trên trán tôi, miệng lẩm nhẩm đọc thần chú:

- Để ta xem nào.

Một lát sau, như thể vấp phải trở lực nào đó, ngón trỏ của cô ấy đột ngột bắn ra khỏi trán tôi. Cô ấy mở mắt, khẽ hít thở:

- Lạ quá, ai đó đã yểm một đạo bùa lên người cô. Đạo bùa này tuy có thể giúp ích cho việc tu luyện nhưng lại trói buộc linh hồn và thể xác cô.

- Đạo bùa ư? – Tôi băn khoăn ngước nhìn gương mặt kiều diễm của cô ấy. – Nhưng… sao tôi không hề hay biết?

- Người yểm bùa có lẽ không định hãm hại cô, bởi vì đạo bùa này chỉ trói buộc thân thể cô, không khiến cô bị tổn thương nguyên khí.

Như sấm dội bên tai, tôi chao đảo, ngã dúi dụi, đầu va vào chân giường, trong đêm thanh tĩnh, tiếng va đập nghe rất rõ. Khabi vội lao đến kéo tôi lại:

- Khẽ chứ, cô muốn đánh thức đám người hầu ngoài kia à?

Tôi cắn môi, buồn bã nói:

- Chính ngài Ban Trí Đạt. Trước lúc lâm chung, ông ấy đã truyền dạy cho tôi một đoạn kệ, nói rằng sẽ giúp ích cho việc tu luyện của tôi. Mấy năm qua, ngày nào tôi cũng tụng niệm đoạn kệ đó.

- Vị cao tăng danh tiếng lẫy lừng Ban Trí Đạt ư?

Khabi nhấc tôi lên ngang mặt, khẽ chau mày suy ngẫm, sau đó, chừng như hiểu ra mọi chuyện, cô ấy nói:

- Cũng phải thôi, ông ấy có thừa năng lực để làm việc này.

Đột nhiên, tôi thấy buồn vô hạn. Tôi đã giữ đúng lời hứa với ông ấy, ở bên bảo vệ anh em Bát Tư Ba kia mà. Tôi tức giận gào lên:

- Vì sao ông ấy lại làm vậy? Vì sao lại lừa dối tôi?

Khabi vội vàng bịt miệng tôi lại, hầm hừ:

- Vì sao ư? Vì không muốn cô hóa phép thành người.

Tôi sững sờ, chưa kịp hỏi lại thì Khabi đã lên tiếng:

- Cô cũng biết rất rõ rằng, hồ ly xanh là loài đẹp nhất, cao quý nhất trong tộc hồ ly đúng không? Huống hồ cô lại còn là hồ ly xanh thuần chủng. Một khi cô biến hình thành người, chắc chắn trên thế gian này sẽ không cô gái nào có thể so bì nhan sắc với cô. Ngay cả hồ ly tạp chủng là ta đây cũng chỉ có thể ngưỡng mộ và ghen tị mà thôi. Tuy Bát Tư Ba là người tu hành nhưng cậu ấy cũng là một người đàn ông, làm sao không động lòng cho được? Ngài Ban Trí Đạt làm vậy vì không muốn cô mê hoặc cậu ấy.

Tôi như phát sốt, nghiến răng uất ức:

- Tôi… tôi chỉ muốn có hình hài của con người thôi, không bao giờ tôi có ý định mê hoặc người khác…

- Không bao giờ ư? – Khabi ngắt lời tôi, đôi mắt sắc sảo của cô ấy nhìn xoáy vào tôi. – Vậy thì cô cần đến hình hài của con người để làm gì? Cô có dám thề rằng cô không hề có chút tình cảm nào với Bát Tư Ba? Ta thường bắt gặp cô nhìn cậu ấy đắm đuối.

Tôi suýt ngất, đầu lưỡi như cứng lại, ngắc ngứ:

- Tôi… tôi… đó là vì…

Cô ấy lại ngắt lời tôi, nụ cười nhẹ nhàng nở trên môi, chừng như thấu hiểu tất cả:

- Không cần giải thích. Ta là người từng trải, nhiều kinh nghiệm, lẽ nào ta không nhận ra trái tim tiểu hồ ly của cô đang rung động và khao khát! Cô đã ba trăm tuổi, đến lúc rồi đó!

Tôi… tôi rung động, khao khát ư? Lẽ nào những khoảnh khắc tim đập loạn nhịp, những xúc cảm khó hiểu, tâm trạng buồn vui thất thường ấy đều vì nguyên nhân này? Khabi không nói thêm gì nữa, thảnh thơi ngả người xuống gối, hai tay bắt tréo trước ngực. Trong màn đêm mù mịt, đôi mắt màu lam nhạt của cô ấy nhấp nháy, vẻ mặt hả hê như đang được xem kịch vui khiến tôi càng rối bời.

Tôi không biết phải đối đáp ra sao, bèn chuyển đề tài, gặng hỏi:

- Vậy tôi… phải làm sao để gỡ bỏ bùa chú của ngài Ban Trí Đạt?

Khabi bật cười, chỉ dẫn qua quýt:

- Không tu luyện theo đạo pháp mà ông ấy truyền dạy cho cô nữa. Hãy khổ luyện, rất nhanh thôi cô sẽ có được hình hài mà cô mơ ước bấy lâu.

r

- Chúng tôi đã sống trên vùng thảo nguyên ở ngoại thành Phủ Châu suốt ba năm. Với Hốt Tất Liệt, đây là những ngày tháng dằng dặc buồn chán. Tuy sống trong cảnh lụa là, gấm vóc, nhàn hạ, vô ưu nhưng ông ấy đã bị tước mất binh quyền, niềm vui duy nhất của Hốt Tất Liệt lúc này là xây dựng thành quách. Hốt Tất Liệt “bị” cho nghỉ dưỡng ba năm thì công cuộc xây dựng tòa thành cũng kéo dài ba năm, bởi vậy nó rất kiên cố.

Tôi tập tễnh đến bên tủ sách, lật mở cuốn sách giới thiệu về di tích Thượng Đô, nhà Nguyên, chỉ cho chàng trai trẻ bức hình chụp khung cảnh hoang phế của tường thành:

- Sau khi công trình hoàn tất, Hốt Tất Liệt đặt tên cho nó là phủ Khai Bình, nơi đây chính là kinh đô Thượng Đô của nhà Nguyên.

Chàng trai trẻ đón lấy cuốn sách, lật xem:

- Kinh đô của triều Nguyên không phải là Yên Kinh, mà hiện giờ là Bắc Kinh sao? Ngày nay, ở Bắc Kinh vẫn còn di tích tường thành Yên Kinh của nhà Nguyên kia mà.

- Đúng vậy. Nhưng Hốt Tất Liệt làm Đại hãn, mà theo cách nói của người Hán thì tức là lên ngôi ở phủ Khai Bình cũng chính là kinh đô Thượng Đô. Bốn năm sau ông ấy mới xây dựng Yên Kinh.

Tôi ngắm nghía tòa thành đổ nát hoang tàn, chợt bồi hồi nhớ lại những năm tháng phồn hoa rực rỡ đã qua. Mới hơn bảy trăm năm mà tất cả đã thành hoang phế, chỉ còn lại chút tàn tích.

- Đối với Hốt Tất Liệt, Thượng Đô có ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Vì nó đã chứng kiến những năm tháng sa cơ lỡ vận của ông ấy, cũng là nhân chứng cho những năm tháng huy hoàng khi ông ấy lên ngôi hoàng đế. Sau khi dời đô đến Yên Kinh, tình cảm mà Hốt Tất Liệt dành cho Thượng Đô vẫn rất sâu nặng. Bởi vậy ông ấy đã biến Thượng Đô thành “cung điện mùa hè” của mình, và nơi đây cũng được xem là kinh đô thứ hai của nhà Nguyên. Về sau, hoàng thất nhà Nguyên hình thành thông lệ: tháng Tư hằng năm đến Thượng Đô, tháng Chín mùa thu mới trở lại Đại Đô. Thời gian cư trú tại Thượng Đô của các hoàng đế nhà Nguyên kéo dài nửa năm.

Chàng trai trẻ bông đùa:

- Ồ, thì ra truyền thống mùa hè đến sống ở sơn trang Thừa Đức để tránh nắng của các hoàng đế nhà Thanh là học theo người Mông Cổ ư?

 

Ký ức độc quyền 3.5

5

Tuy nói thế, nhưng vẫn cảm thấy tôi có thể làm một giáo viên tốt.

Cái mác “sinh viên Học viện Ngoại ngữ Đại học A” thực ra cũng rất có giá, chỉ cần dán một tờ giấy quảng cáo nhỏ ở ngoài đường, ắt sẽ có rất nhiều phụ huynh gọi điện đến mời phụ đạo Anh văn cho con họ.

Tôi và Tống Kỳ Kỳ đều đi dạy thêm.

Xét về cơ bản, thị trường gia sư có hai quãng thời gian sôi động nhất, một là trước khi khai giảng, hai là lúc gần thi cuối kỳ. Giá thị trường trung bình là hai mươi lăm đồng một tiếng, sau đó tùy theo bậc học của học sinh mà tăng hay giảm.

Cậu nhóc mà tôi dạy kèm tên là Bành Vũ, chuẩn bị vào lớp mười. Kỳ nghỉ hè này, mẹ cậu nhóc sợ con mình bị yếu thế trong ngôi trường phổ thông đầy những cao thủ Anh văn, thấy ngữ pháp của con mình còn yếu nên đã thuê tôi phụ đạo cho cậu khoảng hai tháng, một tuần ba buổi, mỗi buổi khoảng ba tiếng.

Trường đại học rất khuyến khích sinh viên đi dạy thêm, nhưng luôn nhấn mạnh đến vấn đề an toàn, cũng căn dặn sinh viên không được tùy tiện đến nhà đối tác. Nhưng Bành Vũ là do một đồng nghiệp của mẹ tôi giới thiệu, nên tôi không có gì phải lo sợ.

Tháng Chín, sau khi khai giảng, mẹ của Bành Vũ bảo cô chủ nhiệm của cậu cũng dạy môn Anh văn, cô ấy muốn con mình đến nhà cô học thêm, do đó đã khéo léo lựa lời để kết thúc hợp đồng với tôi.

Tôi cũng hiểu giáo viên trong trường rất có uy, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm.

Sau đó, trong hai tháng rảnh rỗi, tôi vẫn chưa tìm được học sinh nào thích hợp.

Cho đến thứ Sáu tuần vừa rồi, Bành Vũ gọi điện cho tôi, bảo học thêm ở chỗ của cô chủ nhiệm đông người quá, không quen, hy vọng tôi có thể tiếp tục giảng bài cho nó.

Tôi suy nghĩ một lúc rồi nhận lời, điều kiện duy nhất là tôi chỉ có thể dạy cho cậu bé một buổi một tuần. Như thế tính ra vẫn nhẹ nhàng hơn đồng hương của Tiểu Bạch đi làm ở quán ăn rất nhiều, dù sao cũng đã có thể giảm nhẹ gánh nặng kinh tế cho gia đình.

 

Bành Vũ rất thông minh, mập mạp trắng trẻo, đang trong giai đoạn phát triển chiều cao, nhiều lúc tôi cảm thấy chỉ cần không gặp một tuần thôi, nó đã cao thêm mấy centimét.

Lần đầu tiên khi gặp nó, thấy nó chỉ cao hơn tôi một chút, giờ mới chưa đến nửa năm, nó đã cao hơn tôi nhiều rồi.

Nó thường xem thường tôi: “Cô Tiết, không phải là cô đã luyện qua Xúc cốt công[1] chứ?”

“Đi, đi, đi!” Tôi nói. “Không có lớn hay nhỏ gì ở đây, cô vẫn là cô giáo của em.”

Tôi vốn dĩ nhỏ nhắn, nếu nói một cách thất đức để hình dung về tôi thì đó chính là sau khi qua thời thiếu nữ, hình như tôi không dậy thì nữa. Bọn Bạch Lâm chê cười tôi thì đã đành, ngay đến cả tên nhóc con này cũng dám châm chọc tôi.

Để khai trí thêm nhận thức cho Bành Vũ về khuôn viên trường đại học, tăng thêm khát vọng học tập của nó, mẹ Bành Vũ nói với tôi, cô ấy hy vọng Bành Vũ có thể đến trường tôi để mở rộng tầm hiểu biết, nhận thức chân thật hơn thế nào là một tổ chức giáo dục đại học. Tôi liền đồng ý.

Chủ nhật, tôi đứng chờ nó ở cửa Bắc, nhưng chờ nửa ngày trời cũng không thấy nó đâu.

Tôi còn chưa kịp nổi nóng thì nó đã gọi điện cho tôi trước: “Cô Tiết, cô làm cái gì vậy? Bỏ em đứng ở đây một mình nửa ngày rồi.”

“Thì cô đang đứng đợi em ở cổng này.”

“Không thể nào!” Nó tức giận nói.

“Sao lại không thể nào chứ?” Tôi còn tức hơn.

Miêu tả nửa ngày trời mới vỡ lẽ, nó gọi xe, nói đi đến Đại học A, tài xế theo lẽ đương nhiên sẽ chở nó đến trụ sở chính của trường, còn tôi thì cứ tưởng nó biết tôi ở khu Tây.

Tôi nói: “Em đứng đó, tôi đến tìm em.”

Cũng may mà có xe buýt đi từ khu Tây đến trụ sở chính, mười phút một chuyến.

Tôi tìm thấy Bành Vũ, định kéo nó lên xe về khu Tây thì nó nói: “Cô Tiết, không phải là cô giả danh sinh viên Đại học A đấy chứ?”

“Tại sao?” Tôi tức tối quay lại nhìn nó.

“Sao cô không học ở đây mà lại đến cái nơi khỉ ho cò gáy đó chứ?”

Tôi bực bội giải thích: “Trường của chúng tôi đều như thế, cơ sở chính chỉ có sinh viên năm thứ tư và nghiên cứu sinh thôi.”

“Nghiên cứu sinh?” Bành Vũ nghe thấy từ này, hai mắt lập tức sáng bừng. “Tức là thạc sĩ và tiến sĩ rồi?”

“Ừm, cũng gần như vậy.” Tôi gật đầu, cho dù bây giờ không phải thì sau này cũng phải.

Nó nhìn những người ra vào cổng với ánh mắt sùng bái: “Vậy tức là, họ không phải tiến sĩ thì cũng là thạc sĩ nhỉ?” Cường độ của tia sáng phát ra từ mắt nó còn mạnh hơn cả khi đồng hương của Tiểu Bạch nhìn thấy những anh chàng đẹp trai.

“Thật ra, tiến sĩ… họ cũng là người mà.”

Bắt đầu từ khi làm cô giáo, tôi đã hiểu sâu sắc một điều, đó là, khi gặp phải một học sinh vô địch thì cô giáo sẽ bất lực đến mức nào.

Bành Vũ sống chết bắt tôi phải dắt nó đi tham quan trụ sở chính, không thèm đoái hoài tới khu Tây, nơi tôi đang ở.

Đến thư viện, nó cảm thán: “Thư viện lớn nhất tỉnh chúng ta là đây ư!”

Đến nhà ăn, nó kinh ngạc: “Nhà ăn có nhiều thang cuốn nhất trong truyền thuyết là đây ư!!”

Đến sân thể thao, nó tán dương: “Hiện trường nơi từng tổ chức Hội thể thao sinh viên toàn quốc là đây ư!!!”

Đến cửa khoa Vật lý, nó hô lớn: “Trung tâm nghiên cứu Vật lý thể lỏng lớn nhất nước ta là đây ư!!!!”

Nói thật lòng, tôi rất sợ cái cằm của nó sẽ bị rớt vì “ư”, đến lúc trở về nhà, sẽ không biết phải nói sao với mẹ nó.

Khả năng xác định phương hướng của tôi không giỏi, thêm nữa, ngoài những lần có nhiệm vụ đặc biệt ra, rất ít khi tôi đến cơ sở chính của trường. Vì vậy, tôi rất ngạc nhiên, nó còn hiểu trường tôi hơn cả tôi.

Tôi hỏi: “Cái gì lỏng lẻo cơ?”

Nó khoái chí nói: “Vật lý thể lỏng.”

Tôi nói: “Ồ! Lúc nãy vừa nghe giật mình còn tưởng là trung tâm chảy nước mũi[2].”

Bành Vũ quay qua nhìn tôi bằng ánh mắt tội nghiệp, nói: “Cô ơi, em thật sự cảm thấy bi ai cho cô và cả trường của cô.”

Nhưng sau khi đi được một nửa hành trình, Bành Vũ phát hiện ra một hiện tượng. Nó nói: “Em cảm thấy chất lượng ngoại hình của nam, nữ trường này đều không cao.”

“Là sao?” Tôi cảm thấy ngoài mấy người trong phòng tôi ở ký túc xá thì cả trí tuệ và thể chất của sinh viên và giảng viên của trường chúng tôi đều rất cao.

“Hình thể không cao lắm.” Nó tiếp tục.

Tôi nhìn nó bằng ánh mắt đục ngầu. Lẽ nào thằng nhóc này là hội viên của Hiệp hội ngoại hình?

Nhưng giờ ở trước mặt nó, tôi là một cô giáo, thế nào cũng phải giả vờ sâu sắc một chút, tôi bèn nói: “Đó là vì mọi người đều siêng năng học tập, không bỏ tâm trí vào việc trưng diện và chăm chút ngoại hình.”

Đúng, tư thế của giáo viên phải được thể hiện.

“Ồ!” Nó nói.

Vừa đi được vài bước, nó lại nói: “Nhưng mà cũng có ngoại lệ đó, cô xem kìa, anh ở phía trước đẹp trai quá!”

Nghe nó khen, ít nhiều tôi cũng cảm thấy lấy lại được chút sĩ diện cho Đại học A, bèn hứng khởi nhìn qua hướng nó chỉ, đồng thời cũng muốn xem mặt người bạn học giành lại vinh quang cho trường.

Nhưng nét mặt của tôi bị đông cứng.

Người đó chẳng phải là Mộ Thừa Hòa sao?

Lão mặc áo khoác màu đen, trong tay là vài quyển sách, đang từ thư viện bước ra, đi trên con đường đá đối diện.

“Anh ấy chắc chắn cũng là thạc sĩ hay tiến sĩ nhỉ?” Bành Vũ hỏi.

“Không phải, đó là thầy giáo.”

“Thầy giáo?” Bành Vũ mở to mắt. “Thầy giáo của tiến sĩ, tức là cao hơn tiến sĩ rồi?”

“… Không tính như em đâu.” Tôi nói. “Đó chỉ là một giảng viên dạy thay thôi.”

“Sao cô biết đó là giảng viên dạy thay chứ?” Bành Vũ không tin, tiếp tục hỏi.

“Vì người đó đang dạy thay cho thầy của cô!” Tôi giải thích bằng giọng giận dữ.

“Ồ…” Nó gật đầu.

Tôi tưởng nó đã bị ngữ khí mạnh mẽ của tôi thuyết phục rồi. Ngờ đâu, hai giây sau, Bành Vũ dùng ánh mắt sáng bừng hơn nữa để nhìn Mộ Thừa Hòa, nói một câu đủ để khiến tôi thổ huyết: “Thầy giáo của cô Tiết ư? Vậy tức là tổ sư gia của em rồi. Thật là vĩ đại ư!”


[1] Xúc cốt công: một môn võ trong bộ Cửu Dương Thần Công, tự co rút xương lại cho thân hình bé đi.

 

[2] Chữ chảy nước mũi 流涕 /liu ti/ đọc hơi giống với chữ 流体 /liu ti/, chỉ khác ở âm đọc.

 

Cánh thư 10.5

“Em…” Tôi cố kiềm chế linh cảm chẳng lành hiện lên trong đầu, rốt cuộc tên Tự Đại này định làm gì nhỉ? Trả thù ư? Đừng có làm thế nhé!

Chỉ tiếc rằng, chưa kịp nói lời từ chối, tôi đã bị gã bỉ ổi đó kéo đi rồi.

 

Tôi miễn cưỡng đi sau hắn một đoạn đường dài, cuối cùng không chịu được nữa liền làu bàu: “Rốt cuộc cậu định làm gì hả?”

Hắn quay sang nhìn tôi, lạnh lùng đáp: “Cậu nghĩ tôi sẽ làm gì?”

Thấy ánh mắt sắc lạnh, giọng nói khinh miệt của hắn, tôi sợ đến nỗi nước mắt trào ra: “Cậu không được trả thù! Cậu có lỗi với tôi trước! Cậu phải xin lỗi tôi…”

Tôi vừa khóc vừa lùi ra sau, chuẩn bị tinh thần co giò bỏ chạy bất cứ lúc nào.

“Được, thế cậu muốn tôi xin lỗi thế nào?” Hắn khoanh tay trước ngực, nhìn động tác của tôi như sắp phì cười.

“Hả?” Tôi sững người, không ngờ hắn lại nói ra câu đó.

“Vừa nãy đúng là tôi không đúng, nên tôi muốn gặp riêng cậu để xin lỗi.” Hắn giải thích bằng giọng bất đắc dĩ.

“Ui da, sao cậu không nói sớm?” Các sợi thần kinh của tôi dãn ra, tôi vừa quệt nước mắt vừa chu miệng nói: “Tôi cứ tưởng cậu trả thù cơ!”

Hắn liền bật cười, than: “Bụng dạ cậu không hẹp hòi như bình thường nhỉ?”

Tôi liền lườm hắn: “Không phải cậu nói là muốn nghĩ cách để xin lỗi tôi sao?”

Hắn vẫn cười, vẻ coi trời bằng vung.

“Được, chơi một bản nhạc cho tôi nghe đi.”

“Cậu muốn nghe gì?” Hắn mở nắp đàn piano, mỉm cười hỏi.

“Gì cậu cũng biết hả?” Tôi tò mò hỏi.

“Cái khác thì không dám nói, nhưng những ca khúc mà cậu biết tôi đều biết cả.” Hắn cười rất đáng ghét.

Được, coi như nhà ngươi giỏi, tôi nghiến răng, sau đó nở một nụ cười ngọt hơn cả mật với hắn: “Thế thì gần như cậu đã chơi tất cả các ca khúc rồi đúng không?”

Hắn mỉm cười tự phụ: “Đa số, tôi không dám chắc là chơi hay mọi ca khúc.”

“Vậy thì cây đàn piano đắt tiền này cũng dùng để đi đôi với những ca khúc cao quý đó của cậu nhỉ?”

Hắn khẽ gật đầu, nét mặt hết sức ngạo nghễ: “Đây là cây đàn mà mẹ tôi cho người chở đến trường, rất quý.”

“Vậy thì, bạn Thương Thang vĩ đại,” nụ cười của tôi càng ngây thơ hơn, “mong cậu hãy dùng cây đàn piano đắt tiền nhất của cậu để chơi bài Hai chú hổ cho tôi nghe!”

Sau một hồi im lặng, hắn hít một hơi thật sâu và đưa tay phải về phía phím đàn, đánh bản nhạc thiếu nhi này bằng một tay.

“Cậu chơi thật hả?” Tôi sững lại, ngẩn ngơ hỏi.

“Nếu không cậu còn định thế nào?” Gân xanh trên trán hắn giật giật, chắc là bị tôi chọc tức đến mức xuất huyết não.

“Ha, ha ha…” tôi ngại ngùng cười, bắt đầu cảm thấy mình có phần quá đáng. Để được sống sót thoát khỏi phòng đàn này, tôi đành phải bấm bụng năn nỉ hắn: “Đổi bài khác đi! Tôi muốn nghe bài nào trữ tình một chút.”

“Hừ!” Nét mặt hắn vô cảm, hừ một tiếng, nhưng đã len lén đặt tay trái lên và đổi sang một tình khúc trữ tình du dương.

Trong phòng đàn rộng rãi, tiếng nhạc như tiếng nước đang chậm rãi chảy, cô bé và cậu bé ngồi trong phòng đều đang mỉm cười, chìm đắm trong giai điệu da diết. Lúc ấy ánh nắng lọt qua cửa sổ hắt chếch vào trong, rèm cửa trắng lất phất trong gió, thỉnh thoảng có mấy cánh hoa màu hồng phấn bay qua, mang theo vẻ ngọt ngào, lãng mạn.

Còn tôi, mãi cho đến tận sau này mới biết, tên của bản nhạc đó là Giai điệu tình yêu.